Ai tin TT còn lên manh nhờ báo cáo quí 3 hãy mua đi ! Hay tèo về 400 hay sâu hơn !

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tuananhdao, 29/09/2008.

976 người đang online, trong đó có 390 thành viên. 11:06 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1706 lượt đọc và 35 bài trả lời
  1. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Cô? phiếu Á châu mất điê?m


    Giới đâ?u tư đang muốn xem chi tiết vê? kế hoạch cứu trợ hệ thống ta?i chính Myf.
    Cô? phiếu Á châu tụt điê?m do giới đâ?u tư vâfn ca?nh giác, dâfu cho đaf có các tin tức vê? thoa? thuận quanh gói cứu trợ 700 ty? đô la da?nh cho hệ thống ta?i chính Hoa Ky?.
    Các phân tích gia nói giới đâ?u tư đang chơ? xem thoa? thuận cứu trợ sef thực sự có tác đụng đến đâu một khi được triê?n khai.

    Tại Tokyo, chi? số Nikkei 225 gô?m các cô? phiếu ha?ng đâ?u Nhật Ba?n đóng cư?a với mức gia?m 150 điê?m, tương đương 1,3%, co?n 11.744 điê?m.

    Tại Hong Kong, chi? số Hang Seng xuống 395 điê?m, tương đương 2%, co?n 18.287 trong các phiên giao dịch buô?i chiê?u
  2. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Ngày mai TT CKVN bước vào chu kỳ tìm đáy mới !
  3. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Phiên này đã có tổng số lệnh đặt mua là 14.162 lệnh với tổng khối lượng cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được đặt mua là 27.987.690 đơn vị, tức là đã giảm 27,03% so với phiên giao dịch trước.


    Và có 19.656 lệnh đặt bán với tổng khối lượng cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được đặt bán trong phiên tăng lên 39.625.710 đơn vị, tương đương tăng 11,05% so với phiên gia dịch cuối tuần trước.


    Trên sàn GDCK Hà Nội, phiên sáng nay, lượng đặt mua đã giảm khá mạnh trong khi đó lượng bán ra đâ lại tăng lên so với phiên giao dịch cuối tuần qua.


    Cụ thể, đã có 9.787 lệnh đặt mua với tổng khối lượng cổ phiếu được đặt mua trong phiên giảm xuống còn 13.772.300 cổ phiếu, tương đương giảm 26,17% so với phiên giao dịch trước đó.


    Và đã có 12.621 lệnh đặt bán với tổng khối lượng cổ phiếu được đặt bán trong phiên tăng nhẹ lên 18.525.200 cổ phiếu, tức tăng 7,04% so với phiên giao dịch cuối tuần qua.
  4. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Hàng PVFC lên sàn hàng loạt công ty len sàn , Hàng chia thưởng ACB lại FPT rồicung hàng nhiều quá TT bội thực nặng rồi :

    -CTCP Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT (mã chứng khoán: FPT) công bố thông tin về việc phát hành cổ phiếu thưởng và đổi tên công ty.


    * Cơ sở dữ liệu về cổ phiếu FPT
    * Nhìn nhận của giới đầu tư về FPT


    Cụ thể, ngày 24/9/2008 HĐQT FPT đã nhất trí chọn Công ty kiểm toán KPMG làm đơn vị kiểm toán cho công ty FPT trong năm 2008. Đồng thời thông qua việc triển khai nghị quyết của Đại hội cổ đông thường niên năm 2007 ngày 22/4/2007 và Nghị quyết Đại hội cổ đông bất thường năm 2007 ngày 6/11/2007 về việc phát hành thêm cổ phần từ quỹ thặng dư vốn trong thời gian sớm nhất, phát hành cổ phiếu thưởng theo mệnh giá cho các cổ đông hiện hữu.


    Theo đó, số lượng phát hành thêm bằng 50% vốn điều lệ vào thời điểm phát hành. Số cổ phiếu tương ứng với số tiền thặng dư mà mỗi cổ đông được chia sẽ được làm tròn đến hàng đơn vị. Thời điểm phát hành trong năm 2008.


    Ngoài ra, căn cứ kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản, ngày 25/9/2008 Đại hội đồng cổ đông Công ty FPT đã quyết định đổi tên công ty thành Công ty cổ phần FPT.
  5. phamconghieu

    phamconghieu Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    24/11/2007
    Đã được thích:
    0
    http://www.tuanvietnam.net//vn/thegioitruyenthong/baochitruyenthongtg/4928/index.aspx
  6. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Hãy coi khủng hoảng phố Wall như chiến tranh Iraq!" 29/09/2008 07:36 (GMT + 7)
    ?oTrong một vài tuần nay, báo chí Mỹ rất thận trọng trong việc đưa tin về cuộc khủng hoảng phố Wall. Họ cố gắng dùng từ ngữ một cách khôn ngoan và có chừng mực. Nhưng với những gì đang diễn ra tôi thích sự thẳng thừng - thậm chí là tàn nhẫn?. Nhà báo Jon Friedman tiếp tục đưa ra quan điểm.


    Đây không phải là lúc mà các nhà báo tự lừa dối bản thân, ảo tưởng huyễn hoặc và dùng ngôn từ mật ngọt.


    Không thể dùng những từ mật ngọt để
    diễn tả trạng thái của những người mất việc này



    Từ năm 1995 đến 2001, thị trường chứng khoán thế giới chứng kiến sự tăng giá nhanh đến chóng mặt của cổ phiếu các công ty hoạt động trong lĩnh vực Internet, tin học và một số ngành liên quan. Sự kiện này được gọi là ?oBong bóng Internet", Dot-com Buble. Các nhà đầu tư cá nhân hấp dẫn bởi lợi nhuận ?onhiều mà nhanh? đã ra sức đổ tiền vào chứng khoán, chỉ số NASDAQ đạt tới đỉnh là 5132,52 điểm vào ngày 10/3/2000. Sự tuột dốc bắt đầu ngay sau đó, dẫn đến phá sản hàng loạt và cuộc suy thoái của ngành công nghệ thông tin những năm sau đó. (nguồn: infotv)

    Khi một loạt các công ty về công nghệ thông tin sụp đổ trong cuộc khủng hoảng ?oDot-com bubble?, báo giới đã bị lên án.

    Bởi vì trước đó, chính các nhà báo đã ?olăng xê? quá đà cho các công ty tin học, khiến ngành công nghiệp non trẻ này trở nên vô cùng hấp dẫn trên sàn chứng khoán. Nhưng khi ngành này tuột dốc, báo chí đã không chỉ quay lưng mà còn chì chiết hết lời.
    Sau sự kiện này, báo chí Mỹ đã biết thận trọng hơn với các sự kiện kinh tế của đất nước. Họ cố gắng xoá bỏ suy nghĩ của công chúng rằng báo chí chỉ nhằm lợi dụng hoàn cảnh khủng hoảng của kinh tế nước nhà để có thể bán nhiều báo hơn, thu hút nhiều ?oclick? chuột hơn hay tăng tỉ suất người xem truyền hình.

    Nhưng đến lúc này, báo chí Mỹ lại trở nên thận trọng quá mức. Họ vô tình đưa thông tin đến công chúng một cách sai lệch.

    Ngày 21/9/2008, tờ New York Times chạy tít: ?oGiữa cuộc khủng hoảng, báo chí hạ giọng?. Phóng viên thực hiện bài viết này là Richard Perez-Pena. Anh đã phỏng vấn một số nhà báo về cuộc khủng hoảng tài chính phố Wall. Đa số họ đều rất cẩn thận khi đưa ra câu trả lời và tránh dùng những từ ngữ gây kích động khi miêu tả về sự sụp đổ của thị trường chứng khoán hàng đầu thế giới.


    Hãy để công chúng thấy được bức tranh chân thực nhất về một phố Wall đang sụp đổ


    Perez-Pena viết: ?oĐối với toàn bộ đất nước, cuộc khủng hoảng này là một bài học về việc duy trì và điều hành nền kinh tế . Còn đối với các nhà báo, đây là bài học về cách sử dụng ngôn từ?.

    "Cách sử dụng ngôn từ" mà anh phóng viên này ám chỉ không chỉ là sự rõ ràng, mượt mà để công chúng có thể dễ dàng hiểu được mà nó còn phải giúp nhà báo thực thi nhiệm vụ hàng đầu của mình: Mang đến thông tin chính xác nhất cho công chúng cho dù chúng thực sự rất khó nghe.

    Perez-Pena viết tiếp: ?oCác bản tin về cuộc khủng hoảng tài chính chỉ dừng lại ở những cụm từ ?ocổ phiếu đang trượt giá?, ?othị tường đang chao đảo nhưng không thể sụp đổ?, ?ocác công ty lung lay và đang cố gắng chiến đấu.?o


    Sự thẳng thắn của các nhà báo có thể khiến
    chính phủ nhanh tay giải cứu thị trường hơn?

    Họ đang đùa sao?

    Trong bối cảnh điên loạn như hiện nay khi mà chúng ta đang trông chờ vào kế hoạch giải cứu lên đến 700 tỷ đôla của Bộ Tài chính, khi mà số người bị mất việc ở Lehman Brothers" đã lên đến hàng chục nghìn người, khi mà hàng tỷ đôla đã bị mất trắng trong cuộc khủng hoảng tín dụng? Làm sao họ có thể dùng những từ ngữ nhẹ nhàng đến như vậy?

    Cuộc khủng hoảng phố Wall cũng giống như cuộc chiến tại Iraq vậy: Các nhà báo cần phải sử dụng ngôn từ mạnh mẽ hơn nữa để miêu tả. Nếu các tờ báo, các bản tin truyền hình hay phát thanh cứ tiếp diễn việc chọn lựa ngôn ngữ sao nhẹ nhàng nhất, họ sẽ đứng trước nguy cơ không đưa đến cho công chúng thông tin chính xác nhất.

    Tom Rosenstiel, chủ nhiệm dự án đào tạo báo chí ?oProject for Excellence in Journalism? đã thừa nhận rằng sức nóng của cuộc khủng hoảng tài chính là rất lớn. Ông nói: ?oTrong một vài tuần qua, cuộc khủng hoảng tài chính đã thu hút được nhiều sự quan tâm của công chúng hơn hẳn cuộc bầu cử tổng thống. Sự kiện này đã kéo cuộc vận động tranh cử trở lại với những chính sách kinh tế của hai ứng cử viên?.

    Vậy tại sao các phóng viên lại cố gắng vẽ lên một bức tranh màu hồng cho công chúng. Ali Velshi, một phóng viên tại CNN bộc bạch: ?oChúng tôi rất thận trọng khi dùng những từ ngữ như ?ovỡ vụn? hay ?orơi tự do?. Nếu có phóng viên nào muốn nói rằng ?othị trường đang rơi tự do?, chúng tôi sẽ phải thảo luận lại và có thể sẽ thay bằng từ khác?.

    Với nhận thức trung bình nhất, ai cũng hiểu được rằng nếu không dùng từ ?ovỡ vụn? thì cũng chẳng còn từ nào diễn tả chính xác nhất thực trạng phố Wall hiện nay.

    John Friedman (Vĩnh Hồng dịch)
  7. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Đằng sau con số CPI giảm mạnh 25/09/2008 10:52 (GMT + 7)
    Vui mừng trước con số CPI tháng 9 chỉ tăng 0,18% nhưng VN cũng cần trầm tĩnh nhìn lại đằng sau con số đó là gì, liệu khả năng nóng trở lại của nền kinh tế còn tồn tại - TS. Trần Đình Thiên, Viện phó Viện Kinh tế Việt Nam đặt vấn đề.
    >>
    Chỉ số CPI giảm là đúng, chúng ta có thể vỗ tay hoan hô, nhưng ngay sau đó, phải bình tĩnh nhìn lại, chiêm nghiệm đằng sau con số đó là gì? có đáng mừng thực hay không? Cần có cách tiếp cận và tầm nhìn dài hạn, cơ bản về những chỉ số kinh tế đó.

    Chỉ số giá tiêu dùng CPI đang có xu hướng chững lại là một tín hiệu đáng mừng cho nỗ lực chống lạm phát của Chính phủ. Tuy nhiên, con số CPI trong tháng 9/2008 chỉ tăng 0,18% cũng gợi lên nhiều điều đáng lưu tâm.



    Một mặt, giá gạo đang giảm mạnh, người tiêu dùng gạo sẽ được lợi, tác động tích cực cho chỉ số CPI đồng thời cũng phản ánh một thực tế là gạo VN đang không bán được. Trong khi đó, mùa mưa đang đến, nguy cơ lúa gạo hỏng lớn, nhất là ở nông thôn Nam Bộ. Đúng lúc phải tiêu thụ sản phẩm gạo thì không tiêu thụ được. Đây là tình trạng đáng lo ngại. Giá thấp đồng nghĩa với của cải bị mất, rủi ro lớn đổ vào người trồng lúa, những đối tượng dễ tổn thương trong lạm phát.


    Mặt khác, phải tính tới sự giảm giá tiêu dùng quốc tế. Khi giá tăng, VN cần tập trung bàn chính sách để chống lạm phát. Khi giá giảm, cần phải xem yếu tố chính sách tác động được bao nhiêu và bao nhiêu là do yếu tố bên ngoài.

    Hiện nay, giá cả các mặt hàng thế giới đều giảm mạnh, tác động tích cực tới chỉ số lạm phát của VN. Tuy nhiên, sự giảm giá này cũng chính là biểu hiện cụ thể của suy thoái kinh tế thế giới. Giá hàng hóa giảm mạnh là tín hiệu ngầm định về một tương lai không mấy sáng sủa, nếu không nói là u tối của nền kinh tế thế giới. Điều này sẽ tác động dài hạn đến tăng trưởng và phát triển của VN. Trong hội nhập, VN buộc phải lưu tâm tới những biến động đó. Đơn cử, hàng hóa VN sẽ được tiêu thụ như thế nào khi nhu cầu nhập khẩu của các nước giảm, nhất là từ kinh tế Mỹ?

    Hơn nữa, quý III thường là thời điểm giá cả xuống thấp, nên ngay cả khi chúng ta không cần làm gì, CPI vẫn giảm.

    Mục tiêu không nằm ở con số lạm phát giảm
    Bên cạnh đó, mục tiêu kiềm chế nhập siêu đã đạt thành tích vang dội. Nhưng chúng ta cũng cần đặt vấn đề: khi đang nhập siêu tưng bừng, bị thắt quá mức, VN sẽ bị ảnh hưởng như thế nào, trong sản xuất và đời sống? Thành tích chỉ là thành tích. Bộ Công thương có thể quan tâm tới thành tích giảm nhập siêu, bởi đó là nhiệm vụ đã được giao, và bằng mọi cách kiềm chế bằng một loại công cụ, giải pháp để chặn việc nhập siêu. Nhưng điều đó có gây khó gì cho sản xuất? Người kinh doanh hàng nhập khẩu ảnh hưởng như thế nào?

    Thực tế, trong nhập khẩu, VN đang quay trở lại quy chế giấy phép, với việc xin giấy phép nhập khẩu phải mất hàng tuần. Hệ thống giấy phép gây khó khăn gì? Cách hành xử mang tính hành chính ít khi mang lại thành quả tích cực.

    Rõ ràng, mục tiêu cuối cùng của chống lạm phát, giảm nhập siêu không nằm ở những con số lạm phát, nhập siêu giảm. Quan trọng hơn, các biện pháp, nỗ lực đó mang lại kết quả tối ưu gì cho quan hệ tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế. Lạm phát có thể kéo về mức 0 nhưng có thực sự tốt cho nền kinh tế thì cần xem xét thêm nhiều vấn đề. Nếu kéo CPI xuống thấp quá, có thể nền kinh tế đình trệ, khó khăn sẽ bung ra ở khía cạnh khác.

    Giá lên xuống thất thường, mức dao động lớn sẽ gây khó cho việc kinh doanh, sản xuất. Nhập siêu cũng vậy, cần tính giảm theo nhịp độ nào là tối ưu. Kết quả cuối cùng cần hướng tới, hay tính mục đích của hai tuyến vấn đề tái lập ổn định vĩ mô là tính tối ưu cho nền kinh tế chứ không phải ở bản thân thành tích ấy.

    Trong hiện tại, xu hướng giảm lạm phát, kiềm chế CPI khá rõ ràng, xu hướng kiểm soát nhập siêu đã rõ, nhưng vế của tương lai thì chỉ với chỉ số CPI và nhập siêu không phản ánh hết.

    Nguy cơ kinh tế nóng trở lại vẫn tiềm tàng

    Câu hỏi đặt ra là, khả năng nóng lên của nền kinh tế có còn không? Theo tôi còn rất ghê gớm. Bởi vì lượng vốn nước ngoài thực hiện năm nay rất nhiều. Đặc biệt, hiện nay đầu tư công mới giải ngân rất ít, chỉ 57% kế hoạch đề ra trong 8 tháng đầu năm. Để đạt mục tiêu, giải ngân sẽ dồn vào cuối năm. Bởi con số 57% giải ngân theo kế hoạch không phải do Chính phủ chủ động cắt giảm để kiềm chế lạm phát, chỉ là do hạn chế trong giải ngân, giải ngân chậm, cuối năm sẽ nỗ lực hoàn thành mục tiêu.

    Dòng tiền bơm ra sẽ tập trung vào một thời điểm, trong điều kiện nền kinh tế đang có vấn đề, các điểm yếu vẫn tắc, chưa giải tỏa được: như hạ tầng, năng lượng... Khi bơm thêm vốn với một khối lượng khốc liệt, nền kinh tế sẽ nóng trở lại. Câu chuyện cuối năm cần tính tác động của những vấn đề này.





    Hiện nay chỉ số lạm phát tháng giảm mạnh nhưng cần lưu ý đây cũng thường là những tháng lạm phát dịu nhất, không cần làm gì cũng hạ. Cộng hưởng với yếu tố thị trường bên ngoài, VN càng không được chủ quan. Trong khi những yếu tố làm nóng vẫn còn tiềm tàng.

    Hiện nay, nhiều người đặt vấn đề đã đến lúc cần nới lỏng tiền tệ. Theo tôi, cơ sở cho nới lỏng tiền tệ đã xuất hiện, nhưng nới lỏng hay chưa cần có sự cân nhắc về mặt thời gian, và cách nới lỏng. Quan trọng nhất để nới lỏng là giảm đầu tư công. Giảm chứ không phải là giải ngân chậm.

    Giảm đầu tư công, áp lực tiền tệ ra ngoài sẽ bớt đi, lạm phát sẽ giảm thật, vững chắc và chính xác, khi đó, giảm lãi suất xuống mới chắc chắn được.

    Hiện nay, những yếu tố ngoài tiền tệ tác động giảm lạm phát, nhưng đi liền với việc tồn tại các yếu tố tăng tiền, khiến nguy cơ lạm phát cao vẫn còn tiềm tàng. Nếu giảm vội vàng quá, có thể trở nên lợi bất cập hại.

    Trong khi đó, những điểm yếu cơ cấu bên trong của nền kinh tế các giải pháp ngắn hạn chống lạm phát chưa đụng tới được. Những yếu tố làm nền kinh tế nóng lên, một bên bơm tiền và một bên là cơ cấu bên trong, giống như dòng ô tô và hệ thống đường xá, không có sự tương thích, cân đối.

    Bản chất của cơ cấu là chi tiêu của VN quá nóng, các "máy bơm" cứ xả tiền ra thị trường. Có thể hình dung sự nóng của nền kinh tế như kết quả của sự ma xát giữa tốc độ dòng tiền quá cao và quá lớn với mặt đường cơ cấu kinh tế VN. Mặt đường đó là hệ thống bến cảng, giao thông, hạ tầng đô thị, cung cấp năng lượng... hiện đều quá tải. Luồng tiền chạy qua những nút thắt đó làm nóng rực nền kinh tế VN. Chừng nào VN chưa giải quyết được thì nguy cơ bất ổn vĩ mô vẫn lớn.

    Chúng ta vẫn cắt giảm đầu tư theo kiểu phong trào, để tập đoàn, bộ ngành, địa phương tự chủ động cắt và báo cáo lên mà quên mất nhà nước là đại diện chủ sở hữu...

    Chúng ta không biết được, cắt thực như vậy thì sẽ phải dồn vốn cho những công trình nào? Chúng ta không công bố được là công trình nào sẽ đi vào hoạt động trong 2008? Đây là những việc cần làm trong các tháng cuối năm.

    Nếu không làm được thì năm 2008 này, chính sách tiết kiệm giảm chi tiêu công coi như chỉ thành công một nửa về số lượng bình quân nhưng không tạo ra được thay đổi gì về cơ cấu kinh tế. - TS. Nguyễn Đức Kiên (UB Kinh tế của Quốc hội)

    Trong bất ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát chỉ là một trong những yếu tố đó, dù bao giờ nó cũng hiện ra như là yếu tố gay gắt nhất, có tính tập trung, hội tụ.

    Đầu tư, chi tiêu công: Điểm chốt cơ cấu cho bài toán vĩ mô

    Có 3 máy bơm tạo ra sức nóng đó: ngân hàng, ngân sách, và dòng đầu tư nước ngoài. Tất nhiên đầu tư nước ngoài cũng phải qua những kênh trên, nhưng có thể thấy rõ ba luồng tiền: do khu vực tư nhân Việt Nam, do hệ thống chi tiêu chính phủ, bao gồm cả DNNN và luồng DN đầu tư nước ngoài.

    Hiện nay, với chính sách tiền tệ, VN có thể kiềm chế được dòng đầu tư tư nhân. Động thái kiềm chế đầu tư công hiện vẫn chưa rõ ràng, trong khi dòng đầu tư nước ngoài vẫn rất mạnh, thậm chí tăng vọt. Do đó, dòng vốn vẫn rất nóng. Trong bối cảnh hiện nay, VN cần cẩn thận đầu tư nóng làm nền kinh tế không thể hạ nhiệt.

    Giải pháp hạ nhiệt cho VN là một mặt phải giảm đầu tư, mặt khác tăng cơ cấu lên. Vừa đầu tư nhiều, vừa hiệu quả tốt là lý tưởng nhưng chí ít, không được thì giảm đầu tư đi và tăng hiệu quả của mỗi đầu tư lên, dù chưa thể đụng được đến cơ cấu ngay.

    Trước mắt, VN cắt giảm đầu tư công, bước tiếp theo là xem lại cơ chế chi tiêu công, xét duyệt đầu tư công cần thay đổi. Sự cải cách cơ bản nhất phải hướng vào đầu tư công, làm sao tăng hiệu quả, đừng quá nhiều dự án trải ra.

    Về đầu tư công, như đã nói ở trên, tín hiệu quyết tâm cắt giảm thật vẫn chưa rõ ràng. Trong khi đó, ngày 22/9, trong phiên thảo luận của UBTV Quốc hội về việc thực hiện chính sách pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn Nhà nước từ 2005 - 2007, một kết luận rõ ràng đã được đưa ra, VN không quản lý được chi tiêu và đầu tư công. Những lãng phí ở dự án nhà máy xử lý nước thải khi đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì, ở dự án cầu Thanh Trì và tuyến phía Nam vành đai 3... đã là minh chứng rõ ràng.

    Chúng ta bơm tiền ra mạnh nhưng không đúng kiểu, các dự án không được thông tiền... Bơm nhiều nhưng cứ trục trặc, gây bất ổn. 8 tháng chỉ giải ngân được 57% là một minh chứng. Với cách đầu tư hiện nay, nếu cứ hút mãi đầu tư vào, năng lực thực thi, quản trị dự án kém, rủi ro rất lớn.

    Về chi tiêu công, dù quyết tâm cắt giảm 10%, nhưng thực tế, bao nhiêu năm qua, chúng ta vẫn chấp nhận chi vượt thu 5%. Năm nay, sau những tranh luận, Quốc hội dự kiến chấp nhận mức thâm hụt chi ngân sách còn 4,7%. Những tín hiệu đó khiến người ta thực sự băn khoăn về nỗ lực giải quyết điểm chốt cho bài toán vĩ mô của VN, để hạ nhiệt độ nóng của nền kinh tế.

    Nếu không đụng được những vấn đề căn cốt này, thì giống như các chuyên gia nước ngoài nhất định, VN mới chỉ "cứu chữa triệu chứng chứ chưa phải là nguyên nhân của căn bệnh".

    Phương Loan (ghi)
  8. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Cơn ác mộng Phố Wall
    Nhiều nhà phân tích gọi sự kiện này là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất từ sau Đại khủng hoảng những năm 1930. Được châm ngòi từ lâu, quả bom nổ chậm này vừa mới thổi tung hai cựu binh của nền tài chính Mỹ là Lehman Brothers ?" 158 tuổi và Merrill Lynch ?" 94 tuổi, và còn đe dọa cuốn theo hàng ngàn ngân hàng khác vào vòng xoáy của nó.
    Toàn cảnh khủng hoảng tài chính Mỹ

    Đây là một trong những ngày u ám nhất trong lịch sử tài chính của nước Mỹ, bởi nó đóng dấu sự kiện?



    Henry Paulson ?" Bộ trưởng Ngân khố Mỹ: Tự tin thái quá. Ông này cho rằng tác hại của khủng hoảng Lehman sẽ nằm trong vòng kiểm soát. Liệu mọi việc có đơn giản như vậy không? Nguồn: banks.com

    ?Người khổng lồ Lehman ngã ngựa, Merrill Lynch ?obán mình?

    Ngày 14/9/2008, ngân hàng đầu tư tiếng tăm Lehman Brothers đã tuyên bố phá sản, gây sốc cho toàn thế giới. Việc tuyên bố phá sản là lựa chọn duy nhất để tìm kiếm sự bảo hộ, sau khi Barclays và Ngân hàng Mỹ (BoA) từ chối mua lại Lehman.

    Với con số nợ lên tới 613 tỉ USD, Lehman Brothers hiện đang phải cấp tốc thanh lý tài sản sau khi không tìm được người mua phù hợp. Ông bạn Merrill Lynch có thể được coi là ?omay mắn? hơn, được Ngân hàng Mỹ (BoA) mua lại với giá xấp xỉ 50 tỉ USD vào hôm chủ nhật vừa rồi, mặc dù trị giá của ngân hàng đầu tư một thời hoành hành này lên tới 100 tỉ USD vào năm ngoái.

    Đây quả thật là mất mát lớn nhất trong nhiều năm qua, đánh dấu bằng một đợt cuối tuần hỗn loạn và cấp tập với biết bao cuộc họp báo, trao đổi, thương lượng trong những nỗ lực cuối cùng nhằm cứu vãn một con tàu đang đi đến bờ vực thẳm.

    Sự kiện này cũng xảy ra trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang lao đao, tăng trưởng chậm dần còn nạn thất nghiệp thì tăng lên. Và giờ đây thêm 60 000 nhân viên của Merrill và 25 000 nhân viên của Lehman đang hoang mang lo lắng cho số phận của mình.

    Theo thỏa thuận cuối cùng, 17 000 nhân viên môi giới của Merrill sẽ gia nhập một nhóm nhỏ các tư vấn viên của BoA để thành lập công ty Merrill Lynch Wealth Management


    Cơn bão tài chính ập đến với một trong những trụ cột của nền kinh tế Mỹ này không còn là sự kiện đơn giản, bởi ngày 14/9/2008 đã đi vào lịch sử nhân loại với cái tên:

    Ngày Chủ nhật Đen tối của Phố Wall, của nước Mỹ và của thế giới

    Thực ta chúng ta đã thấy cuộc khủng hoảng này tiến gần trong suốt năm qua, kể từ khi thị trường địa ốc của Mỹ chao đảo và hệ thống cho vay thế chấp sa lầy. Tình hình này đã kéo dài suốt 14 tháng nay, ngày càng rơi vào tình trạng không thể cứu chữa với lượng vay nợ không có khả năng hoàn trả ngày càng chất đống. Trước Lehman đã có hai người hùng lớn ?obỏ mạng?: Ngân hàng đầu tư Bears Stearns và chuyên gia thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac.


    John Thain ?" CEO của Merrill Lynch: Nhanh nhậy và thực tế. Ông này có biệt danh là ?oÔng Fixit? (Thợ sửa chữa) do cương vị quản lý của ông tại New York Stock Exchange. Ông này cũng đã cố gắng ?osửa chữa? Merrill. Nhưng không như Fuld, Thain có cái nhìn thực tế hơn. Nguồn: Boston.com

    Đến lượt Lehman, sự cộng hưởng của nhiều yếu tố bất lợi góp phần vào thất bại của ngân hàng đầu tư này. Họ có hai đơn vị mua triển vọng là Barclays của Anh và BoA. BoA ?" chuỗi ngân hàng cho người tiêu dùng và nhà môi giới lớn nhất trên thị trường tài chính Mỹ đã rút lui khỏi những thương lượng mua lại Lehman sau khi chính phủ Mỹ từ chối chịu trách nhiệm trước những mất mát lớn của Lehman.

    Dù không được hậu thuẫn của chính phủ, người ta vẫn hi vọng vào Barclays. Nhưng hi vọng cuối cùng này cũng tan vỡ khi Barclay thông báo không gom đủ phiếu thuận từ các cổ đông trước thời hạn. Vì vậy, cho dù một phần lớn của Lehman vẫn hoạt động tốt, và có vẻ như Barclays sẽ mua với giá hời đi nữa, Lehman vẫn không được cứu như Bears Stearns vào hồi tháng 3 năm nay.

    Có một nhân vật quan trọng đáng được đề cập trong câu chuyện Lehman, đó là ông Richard Fuld ?" CEO của Lehman Brothers. Ông này đã từng ?ocứu sống? Lehman khỏi bờ vực thẳm năm 1998. Trong sự cố lần này, ông đã chèo lái rất tốt lúc đầu, nhưng lại từ chối bán ở giá thấp, mặc dù điều này không phải là không có tiền lệ. Nhưng ?otham thì thâm? kết quả đã không như ông mong đợi.

    Trên diện rộng hơn, các công ty Wall Street thất bại trên chính chặng đường thành công của mình. Qua nhiều năm, họ phất lên nhờ các khoản nợ địa ốc phức tạp và sở hữu các tài sản mua được nhờ vào tín dụng giá rẻ. Giọt nước làm tràn ly xảy đến vào tháng 7 năm ngoái khi khủng hoảng địa ốc châm ngòi cho hiện tượng cạn kiệt tín dụng trên toàn thế giới.

    Đã hai lần trong suốt năm ngoái, các nhà chức trách đã phải can thiệp để cứu vãn các công ty tài chính và ngăn chặn sự trượt dốc của thị trường địa ốc, Nhưng cho tới chủ nhật vừa rồi, họ dừng lại trước Lehman.

    Vậy chúng ta xoay xở thế nào trong?

    Thế giới tài chính thời ?ohậu Ledman Brothers?


    Kenneth Lewis ?" CEO của Ngân hàng Mỹ (BoA): Xây đắp đế chế. Ông này mải miết với những vụ mua lớn bao gồm FleetBoston, MBNA hay ngân hàng LaSalle. Nhưng Merrill là chiến công lừng lẫy nhất. Nguồn: Bloomberg

    Những động thái xảy ra xung quanh Lehman có tác động xấu tới thị trường. Nếu Lehman phải bán tháo tài sản, giá cả nói chung sẽ tụt xuống. Ngoài ra, việc Lehman ?omột mình chịu trận?, không được sự hậu thuẫn của chính phủ Mỹ cho dù hậu quả là khốc liệt cũng là lời cảnh báo cho các công ty khác trong ngành.

    Trong nội bộ của Lehman có tới hơn 25 000 nhân viên nắm giữ tới 1/3 cổ phần hiện giờ đã vô giá trị. Họ hiện đang chìm trong lo ngại và hoang mang, vội vã tìm việc tại các công ty tài chính khác, khi mà hiện trạng tài chính nước Mỹ cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa.

    Merrill vẫn có mặt trên thị trường tài chính, nhưng người ta chưa thể chắc chắn nỗ lực này sẽ đảo chiều cơn bão tài chính ám ảnh Phố Wall trong suốt năm qua và gây ảnh hưởng xấu đến nền tài chính Mỹ và thế giới.

    Phố Wall từng là nơi tung hoành của 5 trụ cột lớn. Với sự ra đi của Bear Stearns, nối bước là Lehman và Merrill, chỉ còn 2 ngân hàng đầu tư trụ lại là Goldman Sachs và Morgan Stanley. Các chuyên gia có lí do để lạc quan vào sự tồn tại của hai tổ chức này, nhưng cuộc khủng hoảng xảy đến với Mỹ sẽ là không tránh khỏi và những hậu quả của nó đối với nền kinh tế toàn cầu sẽ chỉ vấn đề thời gian mà thôi.

    Các nhà điều hành tài chính Mỹ giờ đang cuống cuồng phản ứng trước nguy cơ sụp đổ của hệ thống.

    Cục dự trữ liên bang Mỹ Fed thông báo sẽ bơm thêm tiền vào thị trường dưới dạng đấu giá. Ngoài ra, Fed cũng đang cố gắng gây quỹ khẩn cấp với trị giá 70 tỉ USD để ?ođỡ đạn? cho thị trường.


    Richard Fuld ?" CEO của Lehman Brothers: ?oTham thì thâm?. Ông này đã từ chối một số lời mời có khả năng giải cứu ngân hàng vì tin rằng Lehman Brothers đáng giá nhiều hơn thế. Bây giờ thì ?oGorilla? này không thể xoay ngược thời gian nữa. Nguồn: Bloomberg

    Nhiều người còn cho rằng Fed có thể sẽ hạ lãi suất ngắn hạn xuống 2%, một biểu hiện của tình thế quẫn bách và tuyệt vọng, bởi dự đoán hồi tháng 8 cho thấy lãi suất có khả năng sẽ tăng lên, chứ không phải giảm xuống. Cho dù thị trường có được cứu nguy trong tuần này đi nữa, cơn ác mộng có lẽ vẫn còn lâu mới đi đến hồi kết thúc. Tổng thiệt hại toàn thế giới đã lên tới 150 tỉ USD, cùng với tỉ suất 14.5% cho thấy sự giảm sút 2000 tỉ USD tiền mặt.

    Tuy nhiên, những gì đang diễn ra, cho dù đen tối và đau đớn, không phải là yếu tố đột biến của bức tranh thị trường. Những khủng hoảng ?onặng đô? như thế này vẫn xảy ra theo chu kì 6 ?" 7 năm trong vòng 20 năm trở lại đây. Vào năm 1987 thị trường cổ phiếu đổ vỡ.

    Tiếp đến đầu những năm 1990 thế giới chứng kiến khủng hoảng tiết kiệm và cho vay tại Mỹ. Ngay sau đó là cú hát-trích cùng một lúc của Quản lý vốn dài hạn, Khủng hoảng tài chính châu Á và Khủng hoảng trái phiếu của Nga. Sau đó vài năm là đến vụ bong bóng Internet vỡ và những vụ scandal trong ngành kế toán năm 2002 và 2003. Bất chấp những khó khăn này, thị trường cổ phần vẫn tăng lên theo thời gian.

    Việc dự đoán tương lai của thị trường tài chính toàn cầu đã chạm đáy hay chưa là điều không thể, bởi chúng ta cần thêm nhiều phân tích tài chính và kinh tế cũng như tâm lý. Nhưng có một điều có thể khẳng địng được: Những phản ứng cảm tính là mối đe dọa lớn nhất đối với các nhà đầu tư dài hạn.



    Vài nét về Lehman Brothers:



    Đây là ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Mỹ. Thành lập vào năm 1850 tại Alabama, nơi ông Henry Lehman bắt đầu sự nghiệp kinh doanh bông cùng với hai người anh em nữa Emanuel và Mayer.
    Là người chơi chính trên thị trường tài chính thế giới, đồng thời là nhà thầu lớn trên thị trường chứng khoán Mỹ, bao gồm ngân hàng đầu tư và quản lí tài sản.
    Có trụ sở chính ở Đại lộ 7, thành phố New York, gần Quảng trường Thời đại. Ngoài ra còn có trụ sở ở London và Tokyo.
    Là nơi làm việc của khoảng 27 000 nhân viên, bao gồm 3000 nhân viên tại châu Á, ngoại trừ Ấn Độ.
    Tuyên bố thất thu $3.9 tỉ trong quý III, nối bước $2.8 tỉ mất mát hồi quý II. Công ty này cũng đã gây dựng được $10 tỉ qua việc mời chào cổ phần nhưng cũng mất $13.8 tỉ liên quan tới tài sản trong lĩnh vực địa ốc.
    Giá cổ phần đã ?orơi tự do? từ $66 vào tháng 2 xuống chỉ còn $3.65 vào thứ 6 tuần trước.
  9. doihiuquanh1

    doihiuquanh1 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    12/09/2008
    Đã được thích:
    0
    Đề nghị mở bài "Tôi không tin" của ku Ưng Hoàng Phúc nghe cái coi
  10. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/03/2007
    Đã được thích:
    3
    Tập đoàn điện lực EVN: Thấy khó bỏ của chạy lấy người?
    26/09/2008 09:23 (GMT + 7)
    Lấy lí do gặp khó trong huy động vốn, EVN trả lại 13 dự án cho nhà nước. Chỉ chưa đầy 2 tuần, PVN làm đơn xin được nhận làm 13 dự án đó. Những câu hỏi về thực trạng ngành điện có thiếu vốn thực hay không và vai trò của EVN, PVN... trong phát triển ngành điện một lần nữa lại đặt ra.


    EVN: thấy khó bỏ của chạy lấy người?
    Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN báo cáo đề nghị Chính phủ giao 13 dự án phát triển nguồn điện với tổng công suất 13.800 MW cho nhà đầu tư khác, với lý do ?oEVN không thể thu xếp được nguồn vốn?. Nếu việc từ chối 13 dự án này được thông qua, trách nhiệm sản xuất của Tập đoàn Điện lực chỉ còn gần 20.000 MW, chỉ bằng 1/3 tổng công suất điện cần phát triển của Tổng sơ đồ Điện 6.

    Tập đoàn này lí giải, giá điện thấp, lạm phát tăng cao nên thu không đủ chi, EVN không bảo đảm khả năng trả nợ nên các ngân hàng trong và ngoài nước đều từ chối cho vay! Tổng vốn đầu tư các dự án điện của EVN năm 2008 ước trên 43.000 tỉ đồng, nhưng hiện mới cân đối được khoảng 36.000 tỉ đồng. Và cũng vì thiếu vốn nên tiến độ của nhiều dự án phát triển nguồn điện năm 2008-2009 của EVN đã và sẽ chậm... Thực tế, năm 2008 này, trong số 28 dự án nguồn điện EVN đang thi công thì có tới 12 dự án không thể triển khai tiếp do thiếu vốn.

    Ông Phạm Lê Thanh, TGĐ tập đoàn EVN nêu: Kế hoạch vốn đầu tư cả năm của tập đoàn là 43.130 tỉ đồng, nhưng nguồn khấu hao cơ bản của tập đoàn chỉ đảm bảo được 9.300 tỉ đồng, còn lại phải huy động từ vốn bán cổ phần, vốn vay và các nguồn khác. Nhưng từ đầu năm đến nay, lạm phát tăng cao, lãi suất vay ngân hàng tăng 21%, cộng với trượt giá lên tới 27%, nên hầu hết các dự án đều không hiệu quả, không có khả năng trả nợ. Ngân hàng đã từ chối cho vay khoản mới phục vụ cho 13 dự án này.

    Các bài viết cùng chủ đề

    >> Không đảm bảo điện cho quốc gia: Lỗi của ngành điện

    >>Thư ngỏ của "ông chủ" gửi ngành điện lực

    >> EVN đầu tư đa ngành để "lấy ngắn nuôi dài"

    >> Nhận diện thủ phạm gây lãng phí điện năng

    >> Thiếu điện và thế độc quyền

    >> Thư gửi "ông" EVN đêm... mất điện

    Phó Tổng giám đốc Dương Quang Thành thừa nhận: EVN "đang rất khó khăn về huy động vốn cho dự án. Ngay cả dự án hiện nay chúng tôi đang đầu tư, thi công và sắp vận hành trong năm 2008 này cũng gặp khó khăn. Hiện nay, nguồn vốn mà chúng tôi đang thiếu chưa vay được các ngân hàng, dù đã ký hợp đồng nhưng vẫn chưa giải ngân được khoản hơn 9,000 tỉ đồng.?

    Thiếu vốn đang là thực tế có thật mà EVN và nhiều DN Việt Nam phải đối mặt. Vào thời điểm này, các nhà đầu tư trong nước đều đang gặp khó khăn trong thu xếp vốn, ngay cả các ngân hàng cũng phải xem xét lại các khoản thỏa thuận trước đây với nhà đầu tư.

    Với riêng EVN, đây không phải là lần đầu tiên việc thiếu vốn được viện dẫn để giải thích cho việc thiếu điện, không đảm bảo nguồn cung phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt bấy lâu, gây hiện tượng cắt điện triền miên trong cả nước. Ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ năng lượng dầu khí, Bộ Công thương nhận định, "thiếu vốn nên cái khó này chồng lên cái khó khác khiến việc thực hiện khó khăn hơn".

    Cảm thông với cái khó của EVN nhưng đại diện Bộ Công thương cho rằng, EVN từ chối 13 dự án, trả lại Chính phủ là không hợp lý. "Chính phủ lập ra EVN là để lo điện cho đất nước chứ không phải khi khó khăn thì lại trả cho Nhà nước".

    Nhất là bấy lâu nay tập đoàn này được nhận nhiều ưu ái của nhà nước, được hưởng đặc quyền trong cơ chế độc quyền ngành điện mà nhà nước trao cho. Từ chối dự án dù là hình thức "bày tỏ sự khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ của mình", nhưng "EVN đã khó khăn rồi thì các doanh nghiệp khác còn khó khăn hơn. EVN trả lại dự án thì cũng không có nghĩa là các doanh nghiệp khác làm thay được công việc này".

    Vả lại, nếu thời gian qua, EVN không lo đầu tư đa ngành với cớ "lấy ngắn nuôi dài", tập trung toàn bộ nguồn lực nhà nước giao cho vào thực hiện nhiệm vụ chủ chốt được nhà nước giao là đảm bảo nguồn cung điện, có thể áp lực thiếu vốn đã không quá gay gắt như vậy.

    Là con đẻ của Nhà nước, "anh cả đỏ" của nền kinh tế, Nhà nước trông chờ vào EVN với những trách nhiệm lớn của mình. "Đáng lý ra với những khó khăn như vậy thì EVN phải ?omách? cho Nhà nước cách xử lý tình hình này như thế nào, có thể phải tăng giá điện, có thể phải huy động nguồn vốn từ các nơi khác", thay vì "từ chối vội vàng" như cách làm của EVN vừa rồi, ông Hường đặt vấn đề.



    Không đảm bảo nguồn cung điện, thì trên một khía cạnh, EVN đã không hoàn thành trách nhiệm, nhưng thay vì chung vai gánh với Chính phủ tìm giải pháp, EVN, đơn vị được đánh giá là "có khả năng nhất để thực hiện các dự án điện này, chứ không phải các tổng công ty hay tập đoàn khác và cũng không phải đơn vị nước ngoài", lại vội vàng "bỏ của chạy lấy người".

    Người ta không thể không đặt câu hỏi, vai trò của "quả đấm thép" trong ngành điện ở đâu? EVN có vai trò như thế nào trong phát triển ngành điện hiện nay? Liệu với việc không muốn phát triển 13 dự án nguồn điện lớn mà Chính phủ giao, EVN có thể tự đánh mất vai trò của mình trong phát triển năng lượng, mà ngay từ đầu đã được Nhà nước ưu ái, hỗ trợ để giữ vai trò chủ đạo?

    Ngành điện có thiếu vốn?

    Thực ra, việc EVN bị từ chối cho vay cũng không quá khó hiểu. Từ trước đến nay, EVN thường xuyên kêu lỗ với các dự án đầu tư phát triển điện. Trên tư cách của người làm ngân hàng, đương nhiên anh sẽ phải cân nhắc rất kỹ khi quyết định cho vay đầu tư với những dự án dạng đó. Là nhà ngân hàng, anh có sẵn sàng bỏ vốn khi biết chắc dự án anh đầu tư sẽ thua lỗ (ít nhất là về con số báo cáo trước đó)?

    Điều gây ngạc nhiên là, ngay sau khi EVN kiến nghị Chính phủ trả lại 13 dự án điện, thì Tập đoàn Dầu khí Việt Nam PVN đã có ngay công văn ?oxin? Thủ tướng Chính phủ cho phép tiếp nhận đầu tư 13 dự án điện này.

    Chỉ riêng đề xuất này của PVN đã khiến người ta đặt dấu hỏi, liệu ngành điện có thực sự thiếu vốn cho đầu tư? Có thể EVN không đủ vốn đáp ứng, nhưng những nguồn vốn bên ngoài, ngay trong các DN VN vẫn sẵn có, tại sao EVN không huy động hay không thể huy động?

    Hai là, liệu các dự án đầu tư điện có lỗ như EVN vẫn báo cáo xưa nay? Nếu thua lỗ, tại sao có DN khác sẵn sàng tìm cách "chen chân" ngay khi có cơ hội.

    Trên thực tế, đầu tư vào lĩnh vực sản xuất điện từ trước tới nay luôn thu hút được sự quan tâm của các DN trong và ngoài nước. Đã có rất nhiều đề xuất tiến hành các dự án sản xuất và cung cấp điện năng. Có thể kể tới Tập đoàn Tân Tạo với Dự án điện Kiên Lương 1, 2 có tổng công suất 3.200 MW và đang muốn là chủ đầu tư thêm 2.000 MW nữa, hay Dự án Nhiệt điện Nghi Sơn II theo hình thức BOT có tới hơn 30 nhà đầu tư quan tâm mua hồ sơ dự tuyển.

    Nguồn lực và mong muốn đầu tư lớn, nhưng, cơ chế độc quyền, thiếu cạnh tranh hiện nay đã cản trở không để ngành điện phát triển lành mạnh. Bài học mở cửa thị trường di động, cho Vinaphone, Mobiphone... cùng cạnh tranh, nhờ đó mang lợi ích tối đa cho người tiêu dùng là đại bộ phận dân cư cần được xem xét.

    PVN nằm ở đâu trong chiến lược phát triển điện?

    Với quyết định xin dự án của PVN cũng cần có sự cân nhắc thận trọng, trên cơ sở xem xét vị trí của PVN trong chiến lược phát triển của ngành điện nói chung.


    Thiếu điện, mất điện triền miên có thật vì thiếu vốn?


    Theo kế hoạch đặt ra cho năm 2009, ngành điện sẽ sản xuất 86 tỷ 600 triệu KWh điện, trong đó, EVN sẽ chịu trách nhiệm sản xuất 38 tỷ 500 triệu kWh từ các nhà máy của mình vẫn đang là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, phần còn lại phải mua từ ngoài tập đoàn, trong đó có PVN.

    Ngày 7/9, Thủ tướng *************** cũng yêu cầu ngành điện cần tiếp tục cải cách theo hướng cơ cấu lại tổ chức quản lý, xây dựng thị trường điện lực cạnh tranh tiến tới việc giảm dần vai trò độc quyền của EVN trong các khâu phân phối điện và kinh doanh điện.

    Riêng với PVN, ông Đinh La Thăng, Chủ tịch Tập đoàn cho biết: Thủ tướng Chính phủ đã giao PVN cố gắng đảm bảo được 30% sản lượng điện của cả nước. Thực hiện điều đó, ngoài các dự án nguồn điện từ khí thì việc mở rộng, tìm kiếm các dự án điện chạy bằng nhiên liệu khác ngoài khí cũng được PVN nhắm tới. Đây cũng là lý do khiến PVN đề xuất xin toàn bộ các dự án mà EVN trả lại nhà nước.

    "Khó khăn về vốn hiện nay đối với các doanh nghiệp là khó khăn chung, nhưng PVN có nhiều khả năng hơn trong việc thu xếp vốn", ông Thăng cho biết. "Dự kiến, PVN sẽ làm việc với các ngân hàng nước ngoài, hoặc tiếp tục cổ phần hóa các doanh nghiệp để thu xếp vốn cho các dự án này".

    Hiện nay, 3 nhà máy điện do PVN hoàn thành đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ và sẽ cổ phần hóa ngay. PVN sẽ lấy ngay vốn thu từ cổ phần hóa để tiếp tục đầu tư các dự án điện khác. Tất nhiên, các dự án này nằm trong Tổng sơ đồ điện 6 có lộ trình từng năm, số vốn không phải đầu tư một lúc.

    Trước đó, tập đoàn này cũng đề xuất với Chính phủ được phối hợp với Lilama thành lập công ty cổ phần (PVN nắm 70% vốn điều lệ) để triển khai Dự án Nhiệt điện Vũng Áng I và II với công suất 2.400 MW. Dự án này được Lilama khởi công từ cuối năm 2006, nhưng tới nay vẫn ?ogiậm chân tại chỗ?.

    PVN hiện là chủ đầu tư các dự án điện Cà Mau 1, Cà Mau 2 và Nhơn Trạch 1 đã hoạt động với tổng công suất thiết kế 1.950 MW, đồng thời góp vốn với các nhà đầu tư khác để triển khai các dự án điện Nhơn Trạch 2 (750 MW), Sekaman 3 tại Lào (250 MW) và các dự án đang chuẩn bị triển khai như Luongprabang tại Lào (1.400 MW), Thái Bình 2 (600 MW), hay đang đề nghị được đầu tư Dự án điện Kiên Lương 3 (2.000 MW)?

    Dù từng làm nhiều dự án, có lợi thế về vốn, nhưng theo đánh giá của Vụ trưởng Vụ Năng lượng dầu khí, Bộ Công thương, điều đó "không có nghĩa là PVN có khả năng thực hiện dễ hơn EVN. Việc họ xin toàn bộ dự án này phải xem xét kỹ lưỡng. Phải tính đến 10 tỷ USD trong các dự án này và kéo dài hàng chục năm quy hoạch...". Ông Hường nhận định "lúc giải quyết thì vẫn phải có sự tham gia của cả EVN. EVN là những người chịu trách nhiệm chính và là người giải quyết khó khăn về điện hiện nay chứ không phải tập đoàn nào khác".

    Chấp thuận cho PVN "ôm" 13 dự án EVN vừa trả lại cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng, trên cơ sở tính toán kỹ năng lực thực tế của PVN, nhưng "về nguyên tắc, khi chủ đầu tư dự án không đủ khả năng triển khai thì việc tìm chủ đầu tư khác có năng lực hơn để tiếp tục thực hiện dự án là điều bình thường", ông Võ Trí Thành - Trưởng ban Hội nhập kinh tế quốc tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói.

    Trước khi PVN có đề xuất xin nhận số dự án EVN bỏ lại, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào cho biết, Bộ có kế hoạch yêu cầu các DN trong nước tham gia. Trường hợp các DN không tham gia, Bộ sẽ tổ chức đấu thầu cạnh tranh để chọn chủ đầu tư cho các dự án, với điều kiện phải đưa vào hoạt động đúng tiến độ để đảm bảo đủ điện.

    Dự kiến trong tháng 10, Bộ Công Thương sẽ trình Chính phủ các phương án giải quyết.

    Đức Thành - Phương Loan

Chia sẻ trang này