Các yếu tố khác nhau cơ bản giữa thời điểm sau Tết âm lịch năm ngoái với năm nay.

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi vo_thuong_81, 01/02/2008.

1317 người đang online, trong đó có 527 thành viên. 18:02 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 7520 lượt đọc và 103 bài trả lời
  1. happiness7983

    happiness7983 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/04/2004
    Đã được thích:
    0
    em chả thấy việc tiền đô với tiền đồng nó liên quan *** gì đến CK cả, ngân hàng nó thiếu tiền đồng chứ gọi pà con ra xem có thiếu kô, mẹ nó lại vác cả bao tải ra ném vào mặt ý chứ, ,
  2. vo_thuong_81

    vo_thuong_81 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    16/01/2005
    Đã được thích:
    2
    Tăng lãi suất cơ bản, ngân hàng thương mại vẫn "vô can"?
    11:59'' 04/02/2008 (GMT+7)

    - Fed cắt giảm 0,75% lãi suất đồng USD là thị trường tài chính cả thế giới đã náo động. Ngược lại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa qua đã tăng đồng loạt các khoản lãi suất nhưng tịnh không thấy động tĩnh gì từ phản ứng của cộng đồng, trong đó có hệ thống các ngân hàng thương mại. Vì sao một động thái điều tiết tiền tệ nhằm chống lạm phát lại chưa có tác động lớn đến hệ thống?


    Tỷ giá hối đoái đồng tiền Việt và USD bị giảm khiến lạm phát gia tăng. Ảnh: truongthinhbiz.com

    Hướng đi đúng

    Ông Phạm Duy Hưng, Phó Tổng giám đốc ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Á, cho rằng khi lạm phát tăng cao, việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng lãi suất là phù hợp.

    Một khi Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn, các ngân hàng thương mại cũng sẽ có điều kiện nới rộng lãi suất huy động. Bên cạnh đó lãi suất tín dụng cũng có thể tăng lên. Người dân sẽ không có nhu cầu vay tiền nữa. Vậy nên một lượng tiền trong thị trường sẽ được đưa về mà không phải phát ra nhiều.

    Cùng với việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, việc tăng lãi suất này sẽ giúp điều tiết đồng tiền trong lưu thông. Cụ thể là công cụ này sẽ thu hút một lượng tiền về, giảm đi lượng tiền đang có trong trong thị trường.

    ?oViệc ban hành chủ trương tăng lãi suất giai đoạn này là đúng thời điểm? - ông Hưng nói.

    Ông Jonathan Pincus, kinh tế gia trưởng của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam, cũng nói rằng ?ođó là một hướng đi đúng?.

    Đây là giải pháp giúp hạn chế tình hình lạm phát hiện nay để cứu nền kinh tế. Trong bối cảnh đồng đôla ứ đọng một lượng lớn khiến cộng với tỷ giá đồng tiền Việt và ngoại tệ bị tăng lên, tăng lãi suất hy vọng sẽ giúp hạn chế nguy cơ lạm phát trong năm 2008.

    Không tác động lớn?

    Chính sách tăng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước là công cụ phục vụ quản lý vĩ mô, điều tiết thị trường, nhưng gánh vác trực tiếp có thể nói là chính là hệ thống các ngân hàng thương mại. Thế nhưng đến giờ, các ngân hàng thương mại đều có câu trả lời chung cho rằng việc tăng lãi suất này không quan trọng, không ảnh hưởng gì nhiều đến mình.

    ?oKhông có gì quan trọng, vì NHTM điều chỉnh hoạt động SXKD của mình phải căn cứ vào tình hình thị trường, chứ không chỉ trên động thái của NHNN?


    - TGĐ một ngân hàng tại TP.HCM, khẳng định.

    ?oVới ngân hàng của tôi, không có gì bị ảnh hưởng. Có quan trọng nhưng không đáng kể, và không có gì xáo trộn? - TGĐ một ngân hàng khác cũng trên cùng địa bàn TP.HCM, cho biết.

    Một chuyên gia về lĩnh vực TCNH cho rằng sự thờ ơ của các NHTM là ?ocó lý của nó?. Chuyên gia này cho rằng về nghiệp vụ thị trường mở, ở Việt Nam phát triển không mạnh, nên việc gia tăng lãi suất của NHNN sẽ không có tác động trực tiếp nhiều đến hoạt động của các ngân hàng thương mại. Ở Việt Nam, các NHTM đến NHNN chỉ để đổi ngoại tệ, còn hoạt động tín dụng chỉ chiếm một vài phần trăm, không đáng kể. Vì vậy dù NHNN có điều chínhh tăng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn, cũng không tác động nhiều đến hoạt động tín dụng của các NHTM .

    ?oVậy nên, khi NHNN không mua USD là thị trường xôn xao ngay, vì các ngân hàng thương mại thu đổi ngoại tệ sẽ bị ảnh hưởng nặng, và thị trường cũng bị tác động mạnh, nhưng thay đổi lãi suất thì chưa chắc? - chuyên gia này nói.

    Thậm chí, ở Việt Nam có thể còn có hoạt động trái quy luật là khi lãi suất tăng thì hoạt động tín dụng lại tăng. Một trong những nguyên nhân là khối DN tư nhân được cơ hội vay với lãi suất rẻ hơn đi vay ngoài như lâu nay. Điều này có thể NHNN chưa tiên liệu tới.

    Vậy nên nếu có tình trạng này xảy ra, hiệu quả chống lạm phát từ việc tăng lãi suất sẽ hạn chế, chứ không như đáp số của bài toán đã lập sẵn.


    Thị trường chứng khoán bị bỏ rơi?

    Về lý thuyết, một khi lãi suất ngân hàng tăng thì giá chứng khoán giảm.

    Động thái của Việt Nam thời điểm này trái ngược lại với động thái của Chính phủ Mỹ vừa qua.

    Nếu chính quyền Tổng thống Bush quyết định cứu nền kinh tế bằng việc chi 140 tỷ USD (bằng việc giảm thuế) và liên tục cắt giảm lãi suất đồng USD, điều đó có nghĩa rằng Chính phủ Mỹ đã chấp nhận lạm phát để cứu TTCK trước.

    Việt Nam ngược lại, đã chọn chống lạm phát làm mục tiêu. Và như vậy, TTCK tạm thời vẫn chưa có giải pháp.

    Mặc dù tuần qua TTCK tăng 6 phiên liên tục, song chính từ việc cắt giảm lãi suất của NHNN, e rằng việc tăng trưởng này sẽ không giữ được lâu.

    Cùng với việc NHNN quyết định cho các NHTM cho vay cầm cố cổ phiếu với mức tối đa 20% vốn điều lệ là khoản siết lại đã thấy rõ, có thể xu hướng sắp tới TTCK sẽ lại tụt giảm bởi thị trường không còn tiền để mua bán cổ phiếu.

    Một biểu hiện dễ thấy nhất là các NHTM đã bắt đầu có dấu hiệu hạn chế giao dịch tiền đồng. Một số người dân phản ảnh, khi đi vay tiền, có một NH đã không cho vay. Hỏi lý do thì NH này trả lời loanh quanh khó hiểu hoặc không thỏa đáng. Phó TGĐ một NHTM cho biết, lý do là NH không còn tiền đồng, nhưng điều này khó có thể nói với khách hàng.

    Các NHTM sẽ tiếp tục tăng lãi suất

    Các NHTM thờ ơ với quyết định tăng lãi suất của NHNN đến mức, đến ngày NHNN đưa ra quyết định chính thức, nhiều ngân hàng vẫn tỏ ra gần như không hay biết. Khi VietNamNet liên lạc, một số lãnh đạo ngân hàng khá mơ hồ.


    Không khéo chứng khoán lại sụt giảm do việc cứu lạm phát. Ảnh: Đ.Vỹ

    Tuy nhiên, ông Phạm Duy Hưng nói rằng, trên thực tế hầu hết các NHTM đều dự báo trước, nhưng thấy không ảnh hưởng gì nhiều, nên không quan tâm lắm đến thời điểm thực hiện.

    Ông Hưng cho biết, trước đó vào cuối 2007 đầu 2008 khá nhiều NHTM đã tăng lãi suất huy động, do dự báo trước tình hình.

    Đến giờ này, hầu hết các NH ở TP,HCM như Techcombank, Đông Á, ABBank VP Bank, Seabank, Habubank, EximBank, ACBđã tăng lãi suất? Những NH chưa tăng lãi suất cũng có các chương trình dự thưởng khuyến mãi lớn.

    Phần lớn các NH nêu lý do là cần vốn phục vụ việc cho vay mua sắm dịp Tết, nhưng nguyên nhân sâu xa không phải như vậy.

    Lạm phát cao đang làm khách hàng bị thiệt thòi khi gửi tiết kiệm và ngân hàng phải tăng lãi suất để giữ khách.

    Trong bối cảnh tỷ lệ dự trữ tăng lên gấp đôi và nhiều biện pháp thắt chặt tiền tệ đã được ban hành, như sửa đổi Chỉ thị 03, khuyến cáo việc cho vay bất động sản, một phần vốn của các NHTM còn chôn vào ngoại tệ vì NHNN hạn chế mua USD, buộc các NHTM phải tăng lãi suất đầu vào để điều chỉnh cung - cầu.

    Rõ ràng, việc tăng lãi suất nằm ngoài ý muốn của NHTM, nhưng một khi Nhà nước không kềm chế nổi lạm phát thì buộc các NH phải tự giải quyết vấn đề của mình.

    Chính vì vậy, các chuyên gia về TCNH dự đoán, nếu trong thời gian tới nếu tình lạm phát vẫn chưa được ngăn chặn hiệu quả, thì các NHTM có thể vẫn phải tiếp tục tăng lãi suất huy động vốn.

    Đặng Vỹ


    Trên TTVN, 99% từ các cao thủ cho tới thấp thủ dính bẫy đại gia, hấp tấp vội vàng mua vào mấy phiên trước Tết đúng lúc giá đỉnh. Giờ đây đang lo ngay ngáy. 99% các vị đang ôm cổ phiếu, ko còn tiền để mua nữa nếu giá tiếp tục giảm, ra Tết ai dại gì nhảy vào mua giá cao đổ vỏ hộ các vị đây? Không có ai mua thì làm sao hy vọng giá tăng nổi đây? Chỉ cần nhìn làn sóng PR bơm thổi rầm rộ trên các diễn đàn thì đủ biết là sau Tết thị trường sẽ tèo nặng, vì ai đang ôm cổ phiếu cũng rình xả hàng để thoát nợ. Trong khi đó, những người cầm tiền cũng ko vội vàng gì, cứ thong thả nhìn giá rớt thật mạnh, thật sâu rồi mới đủng đỉnh nhặt dần, lúc bà con bắt đầu nản và thi nhau tháo chạy bằng bất cứ giá nào. Đã thành quy luật, cứ lúc nào PR, bơm thổi nhiều trên diễn đàn là bà con ôm cổ đang lo sợ, run rẩy, mót xả hàng lắm rồi. Chỉ mong có người mua để rước nợ hộ thôi
  3. vo_thuong_81

    vo_thuong_81 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    16/01/2005
    Đã được thích:
    2
    Hu hu hu, các đại gia "chơi" bà con nhỏ lẻ ta ác quá. Trước Tết thì lừa Bull Trap xả hết hàng vào đầu bà con ta, trong đó có nhiều cao thủ trên này. Ra Tết lại ko làm phúc mua vào giá cao một tý để mở hàng cho bà con ta phấn khởi, mà để mặc thị trường đỏ lửa thế này

    Thương quá, toàn bà con nhỏ lẻ ôm đống cổ phiếu vỏ ốc đại gia trút ra trước Tết ngơ ngác ko hiểu chuyện gì đang xảy ra. Cứ nghĩ là ra Tết sẽ lãi ngay 30-40% cơ. Ai dè....
  4. vietha83

    vietha83 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/08/2005
    Đã được thích:
    2
    chú cứ bình tĩnh. chờ thắng thua rõ ràng hẵng nói phét.
  5. vo_thuong_81

    vo_thuong_81 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    16/01/2005
    Đã được thích:
    2
    Sự thật trơ trẽn đầy phũ phàng về cái gọi là báo cáo kinh doanh ấn tượng với EPS cao, PE thấp của nhiều công ty niêm yết. Không có gì ngoài mục đích thổi giá cổ phiếu để các cổ đông nội bộ xả hàng tháo cống vào đầu bà con nhỏ lẻ.
    Này thì báo cáo tài chính ấn tượng, EPS cao, PE thấp này, toàn là trò lừa bịp xả hàng vào đầu bà con nhỏ lẻ thoai, bảo sao thằng Tây già đời nó khinh, nó chê ỏng chê eo mấy cái cổ phiếu có EPS cao, PE thấp mà bà con ta cứ lao vào như điên. Giờ đây nhận ra sự thật phũ phàng thì chạy trối chết:

    Đằng sau báo cáo tài chính của các công ty đa ngành



    Sự sôi động của mảng đầu tư tài chính và bất động sản vào cuối năm 2006, đầu năm 2007 đã khiến nhiều DN lớn chuyển mình theo xu hướng phát triển đa ngành. Với nhà đầu tư, làm thế nào để đánh giá tình hình tài chính của một công ty đa ngành; Đâu là hiệu quả thực của một DN dành cho cổ đông... là những câu hỏi mà ĐTCK-online đặt hàng cho tác giả bài viết này.



    Phát triển đa ngành hay chuyên ngành?

    Các công ty lớn chuyên ngành thường có lợi thế cạnh tranh do khả năng tiết kiệm từ quy mô lớn (economy of scale), tức có thể hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi thế cạnh tranh. Khi một công ty chuyên ngành đủ lớn sẽ thường phát triển ra các ngành liên quan để có thể hỗ trợ cho ngành chính. Dần dần sẽ phát triển thành công ty lớn đa ngành. Tuy nhiên, các công ty đa ngành chỉ thực sự hiệu quả khi các ngành hoạt động có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Các công ty lớn thường được nhà đầu tư đánh giá là rủi ro thấp hơn so với công ty vừa và nhỏ. Đó là lý do tại sao trên thế giới cũng như ở Việt Nam giá cổ phiếu của công ty lớn thường cao hơn so với công ty có quy mô nhỏ. Điều đó thể hiện ở chỉ số P/E của công ty lớn thường cao hơn P/E của công ty nhỏ.



    P/E (Price/Earning per share) là chỉ số đo lường nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận trả bao nhiêu cho mỗi đồng lãi của công ty dành cho cổ đông. Bởi vậy để gia tăng giá trị cho các cổ đông, cũng như để tăng quyền lực của nhà quản lý, các công ty thường cố gắng tăng quy mô của mình. Hiện nay hầu hết công ty Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, thường thiếu vốn cho việc mở rộng hoạt động. Sự phát triển của TTCK đã tạo điều kiện tuyệt vời để khối CTCP dễ dàng tăng vốn. Bởi vậy, hoạt động phát hành cổ phiếu tăng vốn để phát triển mảng kinh doanh cốt lõi có lợi thế cạnh tranh của DN là điều rất đáng được khuyến khích. Tuy nhiên, vừa qua rất nhiều CTCP đã phát hành cổ phiếu tăng vốn, nhưng thực tế lại dùng một phần không nhỏ cho các hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư đan chéo lẫn nhau, hay đầu tư vào lĩnh vực khác như bất động sản, mặc dù không có nhiều kinh nghiệm về các hoạt động này. Trong điều kiện giá cổ phiếu đi lên như cuối năm 2006 và đầu 2007, những DN có hoạt động đầu tư cổ phiếu không chuyên nghiệp cũng có thể kiếm được lời rất tốt. Nhưng khi thị trường đi xuống như cuối năm 2007 và những ngày đầu năm 2008, rất nhiều DN có hoạt động đầu tư tài chính không chuyên này bị lỗ nặng nề. Các cụ ngày xưa có câu: ?oNhất nghệ tinh, nhất thân vinh?. DN chuyên về nghề gì, có kinh nghiệm và lợi thế cạnh tranh mảng gì thì nên tập trung làm nghề đó. Nếu có mở rộng nghề, thì nên làm các nghề có liên quan, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Ở TTCK các nước, khi một công ty mở rộng sang lĩnh vực mới thường bị nhà đầu tư đánh giá là rủi ro cao và giá cổ phiếu thường có xu hướng giảm cho đến khi dự án mới chứng minh được tính hiệu quả. Tuy nhiên, nếu mở rộng quy mô của ngành hàng đang sản xuất kinh doanh thì rủi ro thường ít hơn. Nhiều quỹ đầu tư chuyên nghiệp không thích những công ty phát triển đa ngành trong điều kiện công ty/thị trường thiếu hụt trầm trọng nguồn lực để phát triển. Họ thích công ty chuyên ngành nằm trong top dẫn đầu (từ 1-3) của ngành hơn là công ty đa ngành nhưng chẳng có ngành nào nằm trong top dẫn đầu.



    Làm thế nào để đánh giá tình hình tài chính của công ty đa ngành?

    Hoạt động của các công ty đa ngành và/hoặc công ty có các hoạt động đầu tư đan chéo lẫn nhau làm cho báo cáo tài chính của loại công ty này rất phức tạp, khó hiểu, nhất là với nhà đầu tư không chuyên. Khi đọc báo cáo tài chính của một công ty đa ngành, bạn nên lưu ý các điểm sau:



    1. Tính đúng lãi trên mỗi cổ phiếu (EPS): Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế, EPS được tính như sau: EPS = Tổng số lãi dành cho các cổ đông phổ thông/Số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ



    Tuy nhiên, hướng dẫn chuẩn mực kế toán Việt Nam lại chưa rõ ràng và do vậy, tất cả các công ty hiện đang tính EPS không đúng bản chất công thức nêu trên và khác với chuẩn mực quốc tế. Theo hướng dẫn của Kế toán Việt Nam hiện hành, tổng số lãi dành cho các cổ đông chỉ thuần túy là lãi thuần sau thuế trừ đi cổ tức của cổ phiếu ưu đãi mà không trừ đi các khoản lãi không dành cho cổ đông phổ thông như khoản trích Quỹ khen thưởng khách hàng, Quỹ thưởng HĐQT, và đặc biệt là Quỹ khen thưởng phúc lợi. Thông thường sau 1 năm hoạt động có lãi, DN dành khoảng 10-15%, thậm chí 20% tổng số lãi thuần sau thuế để chia cho nhân viên dưới hình thức trích Quỹ khen thưởng, phúc lợi. Chẳng hạn tại Công ty Chứng khoán S, nếu năm 2007 lãi sau thuế đạt 1.000 tỷ đồng thì theo Quyết định của ĐHĐCĐ, Công ty được trích 20% số lãi sau thuế vào Quỹ khen thưởng, phúc lợi. Điều này đồng nghĩa với việc lãi thực dành cho cổ đông chỉ còn 800 tỷ đồng.



    Hiện nay, Quỹ khen thưởng, phúc lợi hay các quỹ khác không phải của các cổ đông vẫn không được trừ khỏi khoản lãi dành cho cổ đông để tính EPS, do vậy nhiều công ty sẵn sàng chi cho các quỹ này rất lớn. Nếu khoản trích vào các quỹ này được loại khỏi khoản lãi dành cho cổ đông thường khi tính EPS, thì nhà quản lý sẽ phải thận trọng hơn trong việc trích quỹ. Bởi khi tăng khoản trích quỹ không dành cho cổ đông, đồng nghĩa với việc giảm lãi dành cho các cổ đông, giảm EPS và do vậy làm tăng P/E, tức làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu công ty, thậm chí có thể làm giảm giá cổ phiếu, điều mà không nhà quản lý nào muốn cả.



    Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư, thiết nghĩ, Bộ Tài chính, UBCK, Sở GDCK TP. HCM và Trung tâm GDCK Hà Nội cần sớm có hướng dẫn rõ ràng cách tính EPS, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Báo cáo tài chính hàng quý cũng cần phải loại trừ các khoản lãi không thuộc cổ đông như Quỹ khen thưởng phúc lợi ra khỏi lãi để tính EPS. Việc tính đúng EPS cần được làm trong các báo cáo tài chính hàng quý chứ không đợi đến cuối năm. Đầu năm, ĐHCĐ thường phải đưa ra kế hoạch phân phối lãi cho năm (mặc dù chưa chính thức). Ví dụ công ty S đưa ra nguyên tắc trích 10% lợi nhuận sau thuế cho Quỹ khen thưởng phúc lợi. Nếu trong quý I, công ty S có lãi sau thuế 100 tỷ đồng, thì nên trình bày thêm một dòng: ?oLãi không dành cho cổ đông? hoặc cụ thể hơn là ?oLãi dành cho Quỹ khen thưởng phúc lợi?, ước tính 10% x 100 = 10 tỷ đồng. Như vậy, lãi dành cho cổ đông (để tính EPS) là 90 tỷ đồng thay vì 100 tỷ đồng như cách báo cáo hiện nay.



    2. Hoạt động chính có mang lại doanh thu và lợi nhuận tốt không? Để trả lời câu hỏi này, bạn nên xem trong phần giải thích của báo cáo tài chính. Nếu một công ty mà lãi chủ yếu là từ các hoạt động đầu tư tài chính hay hoạt động bất thường, còn hoạt động chính không có lãi bao nhiêu thì tương đương với việc lãi của công ty đó không bền vững. Nhìn chung, các khoản lãi đầu tư tài chính đều mang tính nhất thời, nó có thể có ở kỳ này (tháng, quý, năm) nhưng cũng có thể không tiếp tục ở kỳ sau, chứ không bền vững như là các khoản lãi kinh doanh thông thường. Bởi vậy để tính EPS cho các kỳ tương lai, người ta thường chỉ có thể ước tính từ những khoản lãi kinh doanh thông thường. Những khoản lãi tài chính, lãi bất thường chỉ có thể ước tính khi DN có kế hoạch rõ ràng trong kỳ đó.



    3. Làm gì khi DN tăng vốn quá nhanh? Khi một DN tăng vốn nhanh, lợi nhuận không tăng tương ứng do việc tăng vốn do các dự án cần có thời gian để tạo ra lợi nhuận. Nói cách khác, tăng vốn quá nhanh thường làm loãng hay giảm EPS, tức làm cho cổ phiếu của DN kém hấp dẫn hơn khi tính chỉ số P/E. Trong trường hợp này, nếu muốn biết chính xác EPS của công ty, bạn cần tính EPS cho dự án hiện hữu và EPS cho dự án mới khi dự án đi vào hoạt động bình thường.



    4. Các khoản đầu tư dưới 20% vốn cổ phần vào công ty khác: Kế toán Việt Nam ghi theo giá gốc (trừ các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán được ghi theo giá thị trường) mà không ghi theo giá thị trường như chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Điều này làm cho lãi của những DN có khoản đầu tư tài chính lớn sẽ có sự chênh lệch lớn so với cách tính lãi theo chuẩn mực quốc tế, và nó không phản ánh đúng giá trị tài sản của công ty.



    5. Lãi của các khoản đầu tư trên 20% vốn góp vào công ty khác: Do việc không rõ ràng trong hướng dẫn chế độ kế toán Việt Nam, nên đa phần các công ty ghi lãi ở thời điểm nhận cổ tức và theo số tiền cổ tức thực nhận (kế toán trên cơ sở tiền mặt, không trên cơ sở dồn tích-Accural). Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, thì khoản này sẽ ghi vào kỳ có phát sinh lãi của công ty nhận vốn góp và số lãi được tính theo tỷ lệ vốn góp vào công ty, nhân với tổng số lãi dành cho các cổ đông, bất kể công ty đã nhận được cổ tức hay chưa.
  6. newsways

    newsways Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    28/12/2007
    Đã được thích:
    2
    Nhận định chỉ là nhận định và mang tính xu hướng, còn thị trường vận động hàng ngày, do đó không thể nói vận động của thị trường 1 hay phiên mà nói là lên hay xuống được. Mọi động tác để mua được giá rẻ chỉ còn một vài phiên thôi, cố mà xử lý cho hết kẻo mà trâu chậm uống nước đục.
  7. vo_thuong_81

    vo_thuong_81 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    16/01/2005
    Đã được thích:
    2
    Tổng hợp phân tích các yếu tố trong đó có các quẻ dịch cho thấy phải đầu tháng 3 trở ra thì may ra thị trường mới có thể tạm chấm dứt đà suy thoái trầm trọng

    Lúc này nên chuyển sang một kênh đầu tư nào đó an toàn, hiệu quả hơn để tránh bão khủng hoảng chứng khoán đang đến gần
  8. luat101959

    luat101959 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/02/2008
    Đã được thích:
    0
    Kệ họ ôm đi






    Được luat101959 sửa chữa / chuyển vào 17:27 ngày 14/02/2008
  9. vietgacuccu

    vietgacuccu Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    27/08/2007
    Đã được thích:
    0
    Tôi thấy chú nay` phân tích rất hợp lý và có các dẫn chứng xác đáng chứ không như mấy thằng bố láo vào doạ láo nháo khiến bà con chửi cho vỡ mặt. Anh em trong forum cũng nên nghiên cứu kỹ về những lời khuyên có tính chất xây dựng. Về tình hình thị trường thì theo đánh giá chủ quan của tôi trước mắt chưa thể hồi phục được. Theo tôi , với tình hình này co'' lẽ phải qua tháng 6 thi truong mới có cơ hồi phục và qua tháng 9 mới tăng mạnh lại được. Có gì không phải mong anh em bỏ quá cho. Cũng chỉ là đưa ra nhận định trên tinh thần xây dựng.
  10. easternlight

    easternlight Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Đã được thích:
    0
    Đồ thị bảo múc thì cứ múc thôi, giờ này còn vào dọa bà con nữa bó tay

Chia sẻ trang này