Dự đoán trước 15/11 này giảm lãi suất cơ bản... hoặc thay đổi hạn mức tín dụng linh hoạt...

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi New_beginning1984, 30/10/2008.

398 người đang online, trong đó có 159 thành viên. 06:04 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1941 lượt đọc và 22 bài trả lời
  1. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Giải pháp cho thị trường vốn: Cần ?ocả gói?

    Thị trường ngân hàng vừa đón nhận một loạt yếu tố tác động mới, tạo điều kiện để có những chuyển động căn bản cả về nguồn vốn, lợi nhuận, thanh khoản và lãi suất? Nhưng liệu việc nới lỏng tiền tệ đã đủ độ?

    Rõ ràng mục tiêu trực tiếp của các giải pháp chính sách này là nhằm tăng vốn khả dụng cho các NHTM, giảm giá vốn trên thị trường tiền tệ, tạo ra cung tín dụng nhiều hơn với giá rẻ hơn (lãi suất) và từ đó tập trung vào mục tiêu ưu tiên trước mắt là ?ocứu? nền sản xuất (các DN) trong nước.

    Lãi suất cơ bản giảm xuống 13%/năm đồng nghĩa với ?otrần? lãi suất cho vay tối đa của các ngân hàng hạ xuống 19,5%/năm. Lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu giảm và đặc biệt là lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc tăng mạnh sẽ giúp các ngân hàng giảm bớt chi phí vốn.

    Tín phiếu bắt buộc được trả trước hạn cũng hỗ trợ thanh khoản, nguồn vốn cho các thành viên trong trường hợp cần thiết... Tuy nhiên, các hợp đồng tín dụng đã ký nếu có thì chắc chắn mức lãi suất vẫn sẽ cao; NHTM sẽ ưu tiên giảm lãi suất huy động trước sau đó sẽ giảm dần lãi suất cho vay.

    Với điều kiện kinh tế thế giới có nguy cơ suy thoái hay bấp bênh như hiện nay, khó có thể có nhiều DN trong nước có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn 20 %/năm. Trong trường hợp ấy, ứng xử của DN trong nước chắc chắn là chưa thể mở rộng sản xuất trong trước mắt mà có thể tiếp tục chờ đợi hoặc vẫn phải thu hẹp sản xuất hoặc vẫn phải đóng cửa. (Nếu lợi nhuận cao hơn 20% mà lãi vay ngân hàng đã là 19% thì nghỉ luôn cho khỏe... hic hic.../size=5]

    Rõ ràng, nếu chủ trương nới rộng tiền tệ của NHNNVN khiến các NHTM mới chỉ đồng loạt giảm mạnh lãi suất huy động mà chưa giảm mạnh lãi suất cho vay ngay thì mục tiêu ?ogiải cứu nền sản xuất? trong nước khó có thể đạt được.

    Thực tế thời gian qua, việc kiềm chế lạm phát cũng được Việt Nam dựa quá nhiều vào chính sách tiền tệ. Tình trạng đó rất có thể đã làm ?oquá tải? đối với chính sách tiền tệ và thường tạo nên các ?ocú sốc? thắt chặt tiền tệ quá mức và tác động mạnh đến DN.

    Các khảo sát tại Việt Nam đã gợi ý rằng còn khá nhiều ?ocửa? để giúp các DN trong nước giảm thiểu chi phí không cần thiết như giảm thủ tục hành chính (giấy phép con, thuê đất đai, xuất nhập khẩu,...).

    Khi kinh tế khó khăn như hiện nay, nếu Nhà nước có các giải pháp tài chính khác (như cắt giảm thuế, hỗ trợ tín dụng từ ngân hàng chính sách,...) chắc chắn cùng với nới rộng chính tiền tệ sẽ tạo nên một chính sách ?ocả gói? cứu DN?.

    Đối với bản thân các NHTM cần thực sự có sự chia sẻ với các DN bằng cách cắt giảm chi phí hoạt động để có thể mở rộng cho vay với lãi suất thấp.

    (Theo DDDN)

    http://www1.vinabull.com/NewsDetail.aspx?newsid=18914&cat_id=6
  2. virgoman

    virgoman Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/06/2008
    Đã được thích:
    0


    Việc FED cắt giảm lãi xuất cơ bản, để kích thích tăng trưởng kinh tế, sau đó là hành động các ngân hàng Trung ương trên thế giới đồng loạt cắt giảm lãi xuất cơ bản cho thấy :

    - Kinh tế thế giới tăng trưỏng chậm lại, cần phải tăng cung tiền cho thị trường để tránh một sự giảm phát

    - Nếu FED cắt giảm LS mà các Ngân hàng Trung Ương khác đứng ngoài cuộc sẽ dẫn đến việc đồng nội tệ tăng giá so với USD. Và như vậy xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, các chính phủ thì không muốn điều này. Như vậy không loại trừ khả năng VN sẽ cắt giảm LS CB.
  3. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Kiến nghị nới lỏng tín dụng để cứu bất động sản

    Trong khi giới kinh doanh địa ốc đang "khát" vốn, liên tục kiến nghị nới lỏng tín dụng thì đại diện ngân hàng cũng đề xuất Chính phủ điều chỉnh chính sách vĩ mô để cân đối nguồn vốn đổ vào thị trường này.

    Sáng 30/10, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia và Hiệp Hội bất động sản TP HCM đã có buổi họp mặt các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và ngân hàng để tìm giải pháp khôi phục, ổn định thị trường bất động sản. Ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng tới dự.

    Tại cuộc họp, gần 20 ý kiến, giải pháp cứu thị trường được doanh nghiệp đưa ra tranh luận sôi nổi. Tuy nhiên, nổi cộm nhất là đề xuất chính sách cụ thể cho tín dụng bất động sản, hướng hỗ trợ xử lý nợ quá hạn và kêu gọi doanh nghiệp địa ốc tiếp cận thị trường tài chính để tự cứu mình.

    Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Sacombank Đặng Văn Thành phân tích rằng hiện nay doanh nghiệp bất động sản chưa tự tin tiếp cận các quỹ tài chính, còn hiếm hoi những cuộc mua bán sát nhập doanh nghiệp để tạo tiềm lực dồi dào về vốn. Điều này dẫn đến hệ lụy là hầu như doanh nghiệp nào cũng bế tắc và lúng túng khi phải đối mặt với tình huống khó khăn.

    Theo ông Thành, trong tương lai, các doanh nghiệp bất động sản nếu chỉ dựa vào nguồn vốn vay của ngân hàng thì rất khó đứng vững. Bởi lẽ, vai trò cơ bản của ngân hàng là cho vay ngắn hạn trong khi đầu tư kinh doanh bất động sản lại cần nguồn vốn trung và dài hạn.

    Tương tự, Tổng giám đốc ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) Trương Văn Phước kiến nghị, Chính phủ nhanh chóng đưa ra chính sách vĩ mô, tạo điều kiện cân đối vốn bất động sản, đảm bảo cung cầu, cân đối quy hoạch cho thị trường này. Ông Phước cho rằng, Chính phủ phải phát huy vai trò là trọng tài đắc lực hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho thị trường nhà đất bằng giải pháp hợp lý chứ không nên siết chặt. Chuyên gia tài chính này nhận định rằng, nếu không có chính sách cân đối vĩ mô kịp thời thì mâm cỗ bất động sản đang được doanh nghiệp Việt Nam dọn dở dang trên bàn tiệc sẽ dễ dàng bị doanh nghiệp nước ngoài nuốt chửng. (Viện dẫn lý do liên quan đến nước ngoài thì quả thật là rất khôn và đã có sự chuẩn bị)

    Trong khi đó, Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản Đỗ Thị Loan nhận xét rằng, thị trường địa ốc đang bị suy thoái như hiện nay là do chính sách vĩ mô yếu kém. Bà Loan cho rằng Bộ Xây dựng không tham mưu tốt cho Chính phủ việc quy hoạch và phát triển xây dựng, doanh nghiệp vốn ít nhưng lao vào hàng loạt dự án không khả thi. Bà đề nghị rà soát lại các dự án giao, cấp đất và chú trọng tính hiệu quả trong đầu tư để tránh lãng phí.

    Nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Đức Thúy cho biết, trọng tâm của buổi gặp mặt này là tìm hiểu xem thị trường bất động sản hiện đang đi đến đâu và các chiều hướng này sẽ gây ra những hậu quả gì cho nền kinh tế trong thời gian tới.

    Ông Thúy cho rằng, phản ảnh của doanh nghiệp về sự sút giảm, trầm lắng, đóng băng và có nguy cơ sút giảm nếu không có chính sách vĩ mô kịp thời can thiệp là hoàn toàn có cơ sở. Theo đó, tín hiệu xấu của thị trường này có thể để lại hệ quả xấu nếu cứ buông lơi theo đà này. Bởi lẽ, nợ xấu sẽ tiếp tục tăng lên và việc giải chấp tài sản càng khó khăn.

    Tuy nhiên, theo quan điểm của ông Thúy, để có được giải pháp cơ bản cho thị trường bất động sản cần phải có những phiên học chuyên sâu để chọn lựa, biểu quyết và đúc kết nhiều giải pháp khả thi hơn. Điều cần đặt vấn đề là trong tương lai ngân hàng sẽ xử lý nợ bất động sản thế nào, siết nợ ra sao. Nếu làm không khéo thì tất cả đều bế tắc.

    Nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước hứa sẽ chuyển những kiến nghị của doanh nghiệp đến các cơ quan có thẩm quyền để làm cơ sở tìm ra giải pháp hiệu quả cho thị trường bất động sản.

    http://www.tintuconline.com.vn/vn/kinhte/230823/

    Cái này gọi là con có khóc mẹ mới cho bú các bác ợ
  4. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Tín dụng BĐS: Càng giảm dư nợ, rủi ro càng tăng

    Tháo gỡ khó khăn cho tín dụng BĐS chính là tháo gỡ khó khăn cho bản thân các ngân hàng.

    Khá nhiều khách hàng từng bỏ tiền mua căn hộ của một dự án có vị trí đắc địa tại Hà Nội đang lo sốt vó vì thời hạn trả nợ ngân hàng đã gần kề mà thị trường bất động sản (BĐS) vẫn chưa khởi sắc, kế hoạch bán lại suất mua coi như đổ bể, giờ NĐT chỉ mong thu hồi được tiền gốc và đủ trả lãi ngân hàng, nhưng cũng không dễ kiếm người có năng lực tài chính để mua.
    Tương tự, đã có doanh nghiệp thực hiện tới 70% móng mà công trình vẫn dở dang vì thiếu vốn, không bán được nhà, nợ vay ngân hàng càng khó trả.

    Trong một báo cáo mới đây của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, các chuyên gia cho rằng, tháo gỡ khó khăn cho tín dụng BĐS chính là tháo gỡ khó khăn cho bản thân các ngân hàng trước nguy cơ nợ xấu gần kề. Ngân hàng giảm dư nợ BĐS không có nghĩa là giảm rủi ro cho mình, mà thậm chí tác dụng là ngược lại.
    Mỗi căn hộ tại dự án trên có diện tích khá lớn, khoảng 150 m2, riêng giá gốc mua từ chủ đầu tư cũng tới gần 4 tỷ đồng, nếu vay ngân hàng để ôm suất mua mà không bán được, áp lực trả nợ ngân hàng là rất lớn.
    Tại một cuộc hội thảo mới đây, Tiến sỹ Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) cho rằng, mối quan hệ giữa thị trường BĐS với ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa rõ ràng và minh bạch, đây chính là một trong những rủi ro khiến nợ xấu của hệ thống ngân hàng có thể trở nên nghiêm trọng hơn.
    Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, hiện có khoảng 115.000 tỷ đồng cho vay trực tiếp từ hệ thống ngân hàng vào BĐS, chiếm khoảng 9,15% tổng dư nợ, cộng với gần 500.000 tỷ đồng tài sản cho vay thế chấp bằng BĐS ở Việt Nam.
    Vì vậy, chỉ cần một phần nhỏ trong số đó biến thành nợ xấu cũng là cả chục ngàn tỷ đồng. Đây là con số rất lớn đối với ngân sách của Việt Nam cũng như là khả năng can thiệp của NHNN.

    Đề cập đến vấn đề này, lãnh đạo các NHTM cho biết, ngân hàng họ đều có những quy trình tín dụng chặt chẽ đối với cho vay BĐS. Khi cho vay, ngân hàng đều thẩm định ở mức an toàn tối đa, thông thường, với một miếng đất có giá thị trường 100, các ngân hàng chỉ định giá 50 và cho vay 70% của 50 đó nên mức độ rủi ro rất thấp. Hơn nữa, tại các thành phố lớn của Việt Nam, BĐS mất giá không đều, nhiều khu vực vẫn giữ giá nên lo ngại về các khoản vay không đến mức quá trầm trọng.

    Nhưng nhóm chuyên gia của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cho rằng, rủi ro nằm ở chỗ, các ngân hàng đồng loạt quay lưng với cho vay BĐS khiến cho thị trường này không "tan băng" được, việc thanh toán các khoản vay thế chấp bằng BĐS gặp khó khăn. Ngay cả trường hợp có các tài sản thế chấp khác đảm bảo thì ngân hàng cũng không dễ thanh lý để thu hồi vốn kịp thời.
    Trong khi đó, theo báo cáo của Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) hôm 24/10, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng dư thừa đang vào khoảng 50.000 tỷ đồng. Lãi suất tiền đồng chào bán qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh, từ 13%/năm xuống 10,33%/năm.
    Trước tình hình như vậy, ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (NHNN) cho rằng, các ngân hàng có thể cơ cấu lại lãi suất theo rủi ro để từ đó có hình thức lãi suất khác nhau với từng đối tượng cho vay.
    Những dự án được đánh giá tốt, đã hoàn thành 80 - 90% nhưng thiếu vốn, ngân hàng có thể tái cấu trúc khoản nợ để họ có thể vay thêm nhằm hoàn thành dự án đúng quy định, lúc đó mới có thể chuyển cho nhà đầu tư thứ cấp.
    Như vậy, doanh nghiệp BĐS sẽ thu được tiền và ngân hàng thì thu được nợ. Ở lĩnh vực cho vay tiêu dùng, nếu người dân có nhu cầu thật có thể vay 50% trị giá BĐS định mua, với lãi suất vừa phải, góp phần tạo tính thanh khoản cho thị trường.
    Các chuyên gia cũng đề nghị Nhà nước cần lưu ý thành lập quỹ dự phòng để đối phó với khó khăn của các NHTM đã cho vay BĐS.
    "Với thị trường tài chính, chỉ cần chậm một bước, chi phí để chống đỡ rủi ro có thể tốn gấp 10 lần. Đừng nghĩ là các khoản thế chấp còn an toàn mà không hành động. Chúng ta phải chủ động đặt ra bài toán và giải bằng nhiều cách khác nhau", ông Nghĩa nói.

    Theo ĐTCK
  5. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Việt Nam không cần uống thuốc ?ogiảm sốt lạm phát? nữa

    Nói Việt Nam thiểu phát là quá sớm và cần theo dõi thêm. Tuy nhiên, đã đến lúc không cần và không nên cho nền kinh tế uống thuốc ?ogiảm sốt lạm phát? mà tập trung chặn ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu, gây đình đốn trong nước - ông Lê Đức Thuý nói.

    Vị Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, nguyên Thống đốc NHNN cho rằng giảm lãi suất cơ bản đã cấp hệ thống giảm xóc cho các ngân hàng trước những chấn động của môi trường kinh doanh, nhưng các ngân hàng cũng cần tiếp tục quan tâm bảo đảm vững chắc khả năng thanh khoản, song phải chú trọng nhiều hơn đến việc củng cố và tăng cường khả năng thanh toán của từng tổ chức tín dụng.

    Ông Thuý cũng lưu ý việc sớm hoạch định và thi hành phương án xử lý nợ xấu của các ngân hàng.

    Đưa tín hiệu đúng để phân bổ nguồn lực trúng

    - Ngân hàng Nhà nước vừa có quyết định giảm lãi suất cơ bản từ 14%/năm xuống còn 13%/năm nhưng các doanh nghiệp, trong đó chủ yếu và doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp tư nhân, vẫn phản ánh rằng họ khó tiếp cận được nguồn vốn vay. Vậy có giải pháp nào để tháo gỡ cho doanh nghiệp trong thời điểm này?

    Ông Lê Đức Thúy: - Dù là hạ lãi suất cơ bản xuống 13% (nghĩa là trần lãi suất cho vay 19,5%) và ngân hàng cũng đã hạ tương đối lãi suất cho vay ra nhưng với khoảng cho vay mức 16, 17, 18%/năm đối với doanh nghiệp vẫn là lãi suất cao, cộng với với môi trường kinh tế chưa có sáng sủa như thế này thì doanh nghiệp người ta cũng cảm thấy chưa phải là thời điểm để đầu tư kinh doanh. Cho nên một số doanh nghiệp thì ngại vay, còn một số doanh nghiệp muốn vay thì không hẳn ngân hàng đã dám cho vay.

    Về phía mình, ngân hàng cũng không thể hạ mạnh lãi suất cho vay vì lãi suất huy động vốn tiền gửi vẫn cao và mức khống chế trần lãi suất cho vay cũng còn cao. Có nghĩa là có những khoản cho vay tiêu dùng, cho vay mua phương tiện đi lại hay cho vay để thực hiện những thương vụ ngắn, người ta có thể vay với lãi suất 2-3%/tháng mà chỉ vay trong một tháng chẳng hạn thì ngân hàng lại không được phép cho vay. Do đó ngân hàng không có đủ lãi để bù đắp những khoản cho vay dài hạn.

    Vì vậy, tôi cho rằng cần phải bỏ việc gắn lãi suất cơ bản với quy định của Bộ luật Dân sự thành ra trần lãi suất cho vay hiện nay. Luật Dân sự cũng cần có một lời giải thích của Quốc hội rằng điều luật ấy chỉ áp dụng đối với những khoản cho vay phi chính thức khi có tranh chấp về mặt pháp lý.

    Lãi suất thoả thuận sẽ tạo cơ hội cho thị trường đưa ra những tín hiệu đúng để phân bổ các nguồn lực trúng trong nền kinh tế. Nó cũng là bộ giảm xóc để hệ thống ngân hàng giảm bớt chấn động của môi trường kinh doanh trong và ngoài nước, thích ứng linh hoạt với tương quan cung cầu về vốn trong từng thời điểm, và tránh những tác động tâm lý bất lợi không đáng có mỗi lần phải điều chỉnh tăng hay giảm lãi suất cơ bản mà thực chất là trần lãi suất cho vay do bị gắn chặt với quy định nói trên của Bộ luật Dân sự.

    Không cần uống thuốc giảm sốt lạm phát nữa

    - Hiện nay, đang có hai luồng ý kiến khác nhau. Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng chưa thể kết luận nền kinh tế có thiểu phát hay không. Luồng ý kiến thứ hai nói, Chính phủ cần phải có kịch bản chống thiểu phát. Quan điểm của ông?

    - Theo tôi, nếu nói nền kinh tế đang trong tình trạng thiểu phát thì quá sớm. Thời điểm này, giá cả trên thị trường đang có xu hướng chững lại và giảm, nhưng so với mức tăng cao nhất thì đúng là có giảm hoặc so với cùng kỳ năm trước và cộng dồn từ đầu năm thì Việt Nam vẫn đứng hàng đầu thế giới và khu vực về mức độ lạm phát. Mức độ lạm phát 20% thì không thể gọi là thiểu phát được.

    Mà muốn kéo lạm phát xuống 10% chẳng hạn thì đương nhiên những tháng tới giá phải giảm. Sự giảm đó đến một lúc nào đấy có thể gây ra thiểu phát thì nên theo dõi, còn trước mắt thì quá sớm.

    Tuy nhiên, đã đến lúc không cần và không nên cho nền kinh tế uống thuốc ?ogiảm sốt lạm phát? như vừa qua mà nên quan tâm đến vấn đề ngăn chặn ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu với sự giảm sút tăng trưởng bên trong có thể gây nên đình đốn sản xuất kinh doanh trong nước.

    Do đó chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài khóa phải linh hoạt hơn nữa để giúp cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn và phục hồi kinh tế tốt hơn.

    Cần hoạch định và thi hành ngay phương án xử lý nợ xấu

    - Theo ông, chính sách tiền tệ và tài khóa sắp tới sẽ phải linh hoạt như thế nào?

    Đó là củng cố lòng tin và tăng cường khả năng ?ochống đỡ giông bão? của hệ thống các tổ chức tài chính mà trụ cột là hệ thống ngân hàng.

    Điều đó có nghĩa là các ngân hàng cần tiếp tục quan tâm bảo đảm vững chắc khả năng thanh khoản, song phải chú trọng nhiều hơn đến việc củng cố và tăng cường khả năng thanh toán của từng tổ chức tín dụng.

    Thời gian qua, năng lực tài chính bị suy yếu do những khó khăn trong kinh doanh, nhất là chi phí vốn quá cao so với trần lãi suất đang làm cho không ít ngân hàng thương mại thua lỗ.

    Nợ xấu đang và sẽ tăng lên sẽ làm cho bảng cân đối tài khoản của các ngân hàng xấu đi.

    Thị trường bất động sản trầm lắng, đóng băng sẽ là một thách thức lớn cho việc giải chấp tài sản để thu hồi các khoản vay đáo hạn, làm tăng gánh nặng tài chính đối với người đi vay lẫn người cho vay.

    Theo tôi, phương án xử lý nợ xấu của từng tổ chức tín dụng phải được hoạch định và thi hành ngay. Đồng thời một phương án xử lý tổng thể nợ xấu cho nền kinh tế, với vai trò của ngân hàng và công ty mua - bán nợ do Chính phủ thành lập, cần quy định rõ nguồn lực tối thiểu cần thiết và cách thức sử dụng nguồn lực đó... đã trở nên cấp bách.

    Bên cạnh đó, cũng cần tuyên bố chính thức và công khai việc Chính phủ bảo đảm toàn bộ các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân cư ở các tổ chức tín dụng để ngăn chặn những đột biến xấu, đồng thời thu hút thêm các nguồn vốn nhàn rỗi hiện đang quay vòng hay nằm im ngoài hệ thống ngân hàng, làm cho thanh khoản của nền kinh tế thêm dồi dào hơn.

    Theo Vân Anh (Vietnamnet)
  6. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Ngân hàng lo... thừa tiền

    Các tổ chức tín dụng bắt đầu lo có quá nhiều vốn khả dụng, khoảng 90.000 tỉ đồng (5,5 tỉ USD) chưa cho vay ra được, trong khi họ không dám đẩy tăng trưởng tín dụng vì lãi suất còn cao và e ngại rủi ro.

    Tín hiệu đảo chiều

    Theo số liệu của sàn Hà Nội, trái phiếu chính phủ vẫn được các nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trong tuần qua (từ ngày 20 đến ngày 24/10/2008). Họ mua vào 2.295 tỉ đồng và bán ra 4.777 tỉ đồng, bán ròng 2.482 tỉ đồng, tương đương 148 triệu USD. Nhưng lần bán ra này có một điểm khác: khá nhiều các giao dịch bán ra là repo trái phiếu (trái phiếu sẽ được mua lại với giá nhất định sau một thời gian thỏa thuận nhất định - NV).

    Như vậy một số tổ chức chủ sở hữu trái phiếu đang cần tiền đồng và đối với họ, về lâu dài trái phiếu vẫn là thứ hàng hóa hấp dẫn.

    Trên thực tế lực hút của trái phiếu đang gia tăng nhanh chóng. Nguyên nhân chính là các ngân hàng trong nước, nhất là ngân hàng cổ phần, ?olùng sục? mua trái phiếu. Những người kinh doanh tiền tệ giàu kinh nghiệm đã hiểu rằng với việc lãi suất cơ bản chính thức giảm vừa rồi, lãi suất đang trên đường tìm về mặt bằng cũ của chính nó trong các năm 2006-2007. Mua trái phiếu với lợi tức 14%/năm bây giờ sẽ là một món hời trong thời gian tới.

    Mặt khác, quan trọng hơn lợi tức, trái phiếu là ?ovùng trũng? an toàn để ?ogiải phóng? nguồn vốn khả dụng đang dư thừa.

    Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết các ngân hàng nội địa đang dư thừa khoảng 50.000 tỉ đồng. Số tiền tạm thừa còn tăng thêm 20.300 tỉ đồng khi các ngân hàng đang lần lượt rút tín phiếu bắt buộc mua hồi tháng 3/2008 trước hạn.

    Bộ phận kinh doanh trái phiếu của Dragon Capital tính toán trong tháng 10 và 11-2008 có thêm khoảng 1,3 tỉ USD(khoảng 22.000 tỉ đồng) trái phiếu chính phủ đáo hạn. Chủ sở hữu lượng trái phiếu này chủ yếu là các ngân hàng. Tổng cộng các ngân hàng có thêm nguồn cung tiền khoảng hơn 42.000 tỉ đồng nữa và nguồn vốn dư thừa lên tới 92.000 tỉ đồng.

    Vốn huy động tăng mạnh

    Tiền thừa nhưng ngân hàng không mạnh tay phát triển tín dụng vì e ngại rủi ro mặc dù cho đến cuối tháng 10-2008 tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống mới chỉ ở mức 18% so với 30% được phép. Trong khi đó lãi suất đầu ra vẫn còn cao, trung bình 16-18%/năm, đang là rào cản đối với doanh nghiệp.

    Ở phía nguồn cung, vốn huy động của ngân hàng đang tăng vọt. Thông tin từ giới ngân hàng cho biết chỉ trong vòng hai tuần đầu tháng 10, vốn huy động của 10 ngân hàng cổ phần tại Hà Nội tăng 22% so với ngày 1/10/2008. Đây là mức tăng đột biến bởi đến đầu tháng 9/2008 vốn huy động của những ngân hàng này chỉ tăng 2% so với cuối năm 2007. Dự đoán hai tháng cuối năm vốn huy động của ngân hàng sẽ còn tăng mạnh vì lãi suất tiết kiệm đang có lợi cho người gửi tiền.

    Chỉ số giá cả tháng 9/2008 chỉ tăng 0,18%, tháng 10/2008 giảm 0,19%. Thiểu phát đã có dấu hiệu nhen nhúm. Các chuyên gia tài chính dự báo trong vòng sáu tháng tới chỉ số giá cả có nhiều khả năng không vượt quá 6%, tương ứng 12%/năm. Gửi tiết kiệm với lãi suất 15-16%/năm như hiện nay, người gửi chắc chắn có lợi.

    Ngân hàng sẽ làm gì với lượng vốn khả dụng dư thừa? Ngay cả khi NHNN gây sức ép, cũng khó hy vọng các ngân hàng sẽ đẩy vốn ra nhanh cho nền kinh tế nếu rào cản lãi suất cao chưa được gỡ bỏ. Hơn nữa, bài học chạy theo lợi nhuận, ?obơm? vốn quá nhiều, quá nhanh cho bất động sản năm ngoái vẫn còn đó. Sẽ không có nhiều ngân hàng ?omạo hiểm? lần thứ hai. Hệ lụy có thể nhìn thấy trước là vốn thừa càng nhiều, ngân hàng sẽ càng giảm nhanh lãi suất tiết kiệm.

    Bên cạnh đó, các ngân hàng chuẩn bị có thêm khoản lợi nhuận đột biến từ việc tăng lãi suất dự trữ bắt buộc. Lãi suất dự trữ bắt buộc đã được tăng cả thảy ba lần, lần một từ 1,2%/năm lên 3,6%/năm; lần hai từ 3,6% lên 5%/năm; lần ba từ 5% lên 10%/năm.

    Tính toán dựa trên số tiền dự trữ bắt buộc đang gửi tại NHNN (11% tổng vốn huy động), việc tăng lãi suất này sẽ mang lại cho Vietcombank 230 tỉ đồng lợi nhuận, BIDV khoảng 170 tỉ đồng, ACB 120 tỉ đồng, Sacombank gần 100 tỉ đồng, Eximbank hơn 60 tỉ đồng, Techcombank 65 tỉ đồng, Quân đội 40 tỉ đồng, Đông Á 35 tỉ đồng... Lợi nhuận được củng cố, áp lực lợi nhuận giảm đi phần nào, các ngân hàng sẽ càng thận trọng hơn đối với tín dụng.

    Câu chuyện bây giờ là khơi thông dòng chảy tiền tệ. Không thể để vốn ứ đọng trong ngân hàng khi nền kinh tế đang cần vốn, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ và vừa, để tăng sức đề kháng, chống chọi lại tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Nhưng làm thế nào để đồng vốn với giá thành hợp lý đến được doanh nghiệp? Bơm nước cho các dòng sông là điều kiện cần, nhưng phải đi kèm điều kiện không thể thiếu là be bờ, phá các đập không còn thích hợp để nước có thể chảy hiền hòa ổn định.

    NHNN đã làm đúng một bước, đó là củng cố sức mạnh cho các ngân hàng thông qua việc tạo điều kiện gia tăng lợi nhuận cho cả hệ thống. Tuy nhiên, thế vẫn chưa đủ. Các bước tiếp theo cần phải được tiến hành nhanh hơn, mạnh hơn nhằm điều tiết vai trò của các ngân hàng, buộc họ phải hoạt động tích cực trong việc dẫn vốn cho nền kinh tế. Giới tài chính và doanh nghiệp đang chờ đợi lãi suất sẽ tiếp tục được điều chỉnh trong tháng 11 này.

    Thời báo KTSG
  7. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Vì sao ngân hàng chưa dám cho vay?

    Nhiều ngân hàng đang thừa vốn nhưng không dám cho vay vì đã huy động với lãi suất quá cao trước đó.

    Các doanh nghiệp (DN) đang thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh, nhiều trường hợp giữ vốn ngân hàng quá hạn khiến tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng.

    Trong khi đó, nhiều ngân hàng đang thừa vốn nhưng không dám cho vay vì đã huy động với lãi suất quá cao trước đó.

    Nợ quá hạn và chiếm dụng vốn

    Thời gian gần đây, dù vay ngân hàng khó nhưng nợ của các DN vẫn tăng, chứng tỏ nhu cầu vốn vẫn rất cấp bách. Điều này thể hiện ở hệ số nợ và nợ dài hạn trên vốn của các công ty niêm yết vẫn tăng. Không có vốn ngân hàng, hoặc là các DN sẽ tìm đến các nguồn vốn ngoài ngân hàng hoặc chiếm dụng vốn của nhà cung cấp.

    DN khát vốn, trong khi ngân hàng thừa vốn không dám cho vay, vì lãi suất huy động đã quá cao.

    Theo ông Ngô Huy Toàn, Công ty Mega LifeSciences Pty. Ltd, các ngân hàng có chính sách thu hút tiền gửi trong ngắn hạn với lãi suất cao nên nhiều người khi có tiền mặt đã gửi vào ngân hàng để thu lãi thay vì đầu tư kinh doanh hay trả nợ đối tác.

    Trưởng phòng tài vụ một DN may xuất khẩu cho biết, khi vay vốn ngân hàng trở nên quá khó khăn, DN đành phải dùng chiêu cố tình nợ quá hạn để có vốn tiếp tục quay vòng. DN thà chịu lãi suất vay quá hạn còn hơn là ngừng sản xuất, mất khách hàng nước ngoài đã phải cố công giữ mối lâu năm.

    Nhiều DN than, các khoản nợ của khách hàng, đối tác trong thời điểm hiện nay đã trở thành nợ khó đòi, DN đã thiếu vốn lại càng chìm sâu vào khó khăn. Điều đặc biệt là các khoản nợ giữa các DN với nhau không bị tính lãi, vì vậy trong lúc lãi suất ngân hàng quá cao mà cũng khó lòng vay được, nhiều DN cố tình chậm trả, giữ vốn của nhau để cầm cự.

    Thời gian quay vòng vốn bị kéo dài do khó khăn từ khả năng thanh khoản của nhiều nhóm khách hàng lớn, nguồn vốn dự kiến dành cho kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh phải chuyển sang phục vụ tính thanh khoản trong ngắn hạn làm cho hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của DN bị giảm sút nhiều trong năm 2008.

    Hạ lãi suất theo phong trào?

    Ông Hà Văn Thắm, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Đại Dương thừa nhận ngân hàng nào có thừa vốn cũng không ai dám từ chối nhận tiền của người gửi. Nhận rồi thì phải cho vay. Thực tế có khá nhiều ngân hàng dư vốn muốn cho vay nhưng không tìm được khách hàng, do ngân hàng và khách hàng không gặp được nhau.

    Đối với nguồn vốn đang dư thừa, ngân hàng chủ yếu dành cho vay liên ngân hàng, gửi dự trữ bắt buộc? Tuy nhiên, khi nhiều ngân hàng cùng thừa vốn thì vốn cho vay liên ngân hàng cũng ế ẩm. Hiện nay lãi suất liên ngân hàng chỉ ở mức 12-14%, trong khi giai đoạn đầu năm, có lúc bị đẩy lên tới trên 30% đối với lãi suất qua đêm.

    Một đại diện của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cho biết, để đối phó với tình trạng suy giảm khả năng thanh khoản, các ngân hàng buộc phải tăng cường huy động vốn ngắn hạn, trong đó vẫn phải thực hiện các dự án trung dài hạn theo cam kết từ trước. Điều này làm chi phí đầu vào tăng, gây mất cân đối kỳ hạn tài sản nợ.

    Ngoài ra, lợi nhuận của ngân hàng thương mại còn bị suy giảm do tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng cao, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tăng tương ứng với tình trạng gia tăng nợ xấu.

    Một phần đáng kể thu nhập ngân hàng phải dành cho các khoản dự phòng rủi ro đối với nợ quá hạn và nợ xấu đang dần tăng lên.

    Nguồn vốn dư thừa hiện nay chủ yếu là thừa vốn vay ngắn hạn, vì hầu như khách hàng không chọn gửi dài hạn vì khó lường được diễn biến thị trường. Đây cũng là lý do khiến nhiều ngân hàng hiện nay áp dụng lãi suất thấp hơn cho các kỳ hạn dài.

    Phó tổng giám đốc một ngân hàng TMCP cho biết, các ngân hàng đang trong thế kẹt vì lãi suất cho vay hiện nay đã hạ thấp, trong khi nguồn vốn mà các ngân hàng đang nắm trong tay hiện nay hầu hết được huy động từ thời điểm trước đó, khi lãi suất chưa hạ.

    Cho vay ra ở thời điểm này là cầm chắc lỗ. Cho vay ra với lãi suất 18% thì huy động phải ở 14% thì mới có lãi. Huy động 17-18% mà cho vay 18% thì thành ngân hàng công ích. Vì vậy, nhiều ngân hàng chỉ có thể hạ lãi suất theo phong trào, theo hình thức mà thôi, còn không thể cho vay ra.

    Theo Minh Huệ
    Vietnamnet
  8. chienzaCK

    chienzaCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    03/11/2008
    Đã được thích:
    0
    Chà chà, em kêu gào cả tuần nay rồi, giờ mới thấy lãi suất giảm. Tiếc là mới bị lock nick New_beginning1984 sáng nay. He he, các bác mà nghe em thì có phải tốt không.
  9. chienzaCK

    chienzaCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    03/11/2008
    Đã được thích:
    0
    Thông báo về việc điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn,lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và một số biện pháp về hoạt động tín dụng

    Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về tiếp tục kiềm chế lạm phát, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, bền vững; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam triển khai thực hiện một số biện pháp:

    1. Ban hành các văn bản về điều chỉnh giảm lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và yêu cầu các TCTD thực hiện một số biện pháp về hoạt động tín dụng:

    a) Các Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 11 năm 2008:

    - Quyết định số 2559/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam; Theo đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam giảm từ 13%/năm xuống 12%/năm; lãi suất cho vay tối đa của các TCTD bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng giảm từ 19,5%/năm xuống 18%/năm.

    - Quyết định số 2561/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng; theo đó, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 12%/năm xuống 11%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm.

    - Quyết định số 2560/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng. Theo đó, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam 1% và bằng ngoại tệ 2% đối với các loại tiền gửi so với các tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND và ngoại tệ quy định tại Quyết định số 187/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008; cụ thể là:

    + Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng VND: (i) Đối với các NHTM nhà nước (không bao gồm Ngân hàng No&PTNT), NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam, NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính giảm từ 11% xuống 10% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 5% xuống 4% đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; (ii) Đối với Ngân hàng No&PTNT, lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng VND giảm từ 8% xuống 7% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 4% xuống 3% đối với loại tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; (iii) Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng VND của NHTM cổ phần nông thôn và Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác giảm từ 4% xuống 3% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 12 tháng trở lên;

    + Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ: (i) Đối với các NHTM nhà nước (không bao gồm Ngân hàng No&PTNT), NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam, NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính giảm từ 11% xuống 9% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 5% xuống 3% đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; (ii) Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ của Ngân hàng No&PTNT, NHTM cổ phần nông thôn và Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác giảm từ 10% xuống 8% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 4% xuống 2% đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

    b) Ban hành văn bản yêu cầu các TCTD:

    - Điều chỉnh lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam, phù hợp với các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đảm bảo khả năng huy động vốn, hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả.

    - Tập trung vốn tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp và nông thôn, nhất là các hộ nông dân sản xuất lúa vụ mùa Đông xuân, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh và kể cả các dự án đầu tư bất động sản khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.

    - Thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định tại Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đối với các khoản vay không trả nợ đúng hạn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới làm cho sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, chậm tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm, ứ đọng tồn kho hàng hoá như gạo, xi măng, sắt...

    Mục đích của việc thực hiện các giải pháp nêu trên là nhằm tạo điều kiện cho các TCTD đảm bảo khả năng huy động vốn và thanh toán, hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả, giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và hộ sản xuất tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh phát triển.

    2. Buổi trưa ngày 03/11/2008 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thông báo việc điều chỉnh lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các NHTM Nhà Nước, NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam. Các ngân hàng này đã triển khai và có báo cáo bước đầu là thực hiện điều chỉnh giảm từ 1 - 1,5% lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam. Trong đó, Ngân hàng NoPTNTViệt Nam áp dụng lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam các đối tượng ưu tiên theo chính sách khách hàng của mình từ 15-16%/năm, đặc biệt cho vay hộ sản xuất ở địa bàn nông thôn là 15,5%/năm, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 15,9%/năm; Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam áp dụng lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam các đối tượng ưu tiên theo chính sách khách hàng của mình (lĩnh vực xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu...) từ 15-16%/năm.

    Ngân hàng Nhà nước VN

    Ngày 03/11/2008

    http://www.sbv.gov.vn/vn/home/tinHDNH.jsp?tin=3739

    Hic hic, Mod đừng bảo em Xì pam nhé, thanks Mod.
  10. chienzaCK

    chienzaCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    03/11/2008
    Đã được thích:
    0
    Tiếp tục giảm lãi suất cơ bản xuống còn 12%

    (CafeF) - Sáng ngày 03/11, NHNN tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ bằng quyết định giảm hàng loạt các lãi suất như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc...

    Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về tiếp tục kiềm chế lạm phát, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng hợp lý, bền vững; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam triển khai thực hiện một số biện pháp:

    Giảm lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu

    Theo đó kể từ ngày 05/11/2008, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam giảm từ 13%/năm xuống 12%/năm.

    Như vậy, lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng bằng đồng Việt Nam sẽ giảm từ 19,5%/năm xuống 18%/năm theo quyết định số 2559/QĐ-NHNN do Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 03/11/2008.

    Cùng với đó, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 12%/năm xuống 11%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm.

    Về việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam:

    (i) Đối với các NHTM nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Agribank), NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính giảm từ 11% xuống 10% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 5% xuống 4% đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

    (ii) Đối với Agribank, lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng VND giảm từ 8% xuống 7% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 4% xuống 3% đối với loại tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

    (iii) Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng đồng VND của NHTM cổ phần nông thôn và Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác giảm từ 4% xuống 3% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 12 tháng trở lên.

    Về tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ:

    (i) Đối với các NHTM nhà nước (không bao gồm Agribank), Vietcombank, NHTM cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính giảm từ 11% xuống 9% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 5% xuống 3% đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên;

    (ii) Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ của Agribank, NHTM cổ phần nông thôn và Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác giảm từ 10% xuống 8% đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm từ 4% xuống 2% đối với loại tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

    Ngoài ra, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng điều chỉnh lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam, phù hợp với các quy định của NHNN và đảm bảo khả năng huy động vốn, hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả.
    Lãi suất giảm ngay khi cung tiền tăng

    Ngay sau khi NHNN đã thông báo việc điều chỉnh lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các NHTM Nhà Nước, NHTMCP Vietcombank, các ngân hàng này đã triển khai và có báo cáo bước đầu là thực hiện điều chỉnh giảm từ 1 - 1,5% lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam.

    Trong đó, Agribank áp dụng lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam các đối tượng ưu tiên theo chính sách khách hàng của mình từ 15-16%/năm, đặc biệt cho vay hộ sản xuất ở địa bàn nông thôn là 15,5%/năm, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 15,9%/năm.

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) áp dụng lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam các đối tượng ưu tiên theo chính sách khách hàng của mình (lĩnh vực xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu...) từ 15-16%/năm.

    http://cafef.vn//20081103032020205CA34/tiep-tuc-giam-lai-suat-co-ban-xuong-con-12.chn?utm_source=ttvnol&utm_medium=box_ttvnol&utm_content=ttvnol_box&utm_campaign=ttvnol

Chia sẻ trang này